- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Hà Thị N + Tô Anh Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của chị Hà Thị N: Giao cho chị Hà Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Tô Gia H, sinh ngày 24-4-2010 cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có thay đổi.
- Căn cứ chính? Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2021/HNGĐ-ST Ngày: 04- 01 - 2021 V/v:“Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH – TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Anh Tuấn và ông Hà Quốc Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Bích Liên – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 299/2020/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2020 về: Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị N, sinh năm 1985
Địa chỉ: SN 14, Đường Hoàng Hoa Thám, tổ 17, phường C, thành phố L, tỉnh Lao Cai. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Tô Anh Đức, sinh năm 1982
Địa chỉ: SN 747, Đường Đại Đồng, tổ 5, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn – Chị Hà Thị N trình bày:
Chị và anh Tô Anh Đ ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 15/2020/QĐST-HNGĐ ngày 17-02-2020 của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình. Về con chung: Chị là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Tô Hà L, sinh ngày 27-9-2019; anh Tô Anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục cháu Tô Gia H, sinh ngày 24-4-2010, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn, chị là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu H và hiện cháu theo học tại trường tiểu học số 2 xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Tuy nhiên, khi anh Đ lên thăm cháu đã có lần chửi bới, đe dọa, đánh đập cháu nên đã ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của cháu. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tô Gia H và yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng, kể từ ngày 04-01-2021.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn – Anh Tô Anh Đ trình bày:
Anh và chị Hà Thị N đã ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Yên Bình như chị N trình bày là đúng. Tuy nhiên, sau khi ly hôn, cháu Tô Gia H vẫn theo học tại trường tiểu học số 2 xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vì vậy, anh vẫn để cháu học và ở cùng chị N. Đến hết năm học anh nói với chị N sẽ chuyển cháu về học và ở với anh tại thị trấn Y, huyện Y nhưng chị N không đồng ý. Giữa anh và cháu H cũng phát sinh mâu thuẫn, có lần anh đến viện thăm cháu L và rủ cháu H đi ăn cơm trưa thì cháu không đi nên anh có cầm dao gọt hoa quả dọa cháu nhưng chưa đánh đập hay gây thương tích cho cháu. Đến nay, chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tô Gia H, anh không đồng ý. Trong trường hợp chị N vẫn kiên quyết yêu cầu được nuôi dưỡng cháu H thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Nếu chị N được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tô Gia H thì anh sẽ cấp dưỡng nuôi cháu là 1.000.000 đồng/tháng, kể từ ngày 04-01-2021.
Tại phiên tòa cháu Tô Gia H trình bày: Sau khi bố mẹ cháu ly hôn thì cháu vẫn ở cùng mẹ tại thành phố L, hiện cháu đang học tập và sinh sống ổn định với mẹ nên cháu có nguyện vọng ở với mẹ để mẹ cháu có điều kiện chăm sóc cháu tốt hơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tại phiên tòa: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 82; khoản 2, khoản 3 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 26, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị N, giao cháu Tô Gia H, sinh ngày 24-4-2010 cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Đ cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000đồng/ tháng, kể từ ngày 04-01-2021; Về án phí: Anh Tô Anh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Hà Thị N yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, bị đơn – anh Tô Anh Đ có hộ khẩu thường trú tại tổ 5, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình theo quy định tại khoản 3 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung của vụ án:
Chị Hà Thị N và anh Tô Anh Đ đã ly hôn tháng 02-2020. Khi ly hôn, anh chị thỏa thuận giao cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Tô Gia H, sinh ngày 24-4-2010 và chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Tô Hà L, sinh ngày 27-9-2019. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án đã xác định được chị N có nghề nghiệp, có thu nhập và chỗ ở ổn định. Thực tế, sau khi ly hôn chị N vẫn trực tiếp nuôi dưỡng cháu H, cháu được chăm sóc đầy đủ và phát triển khỏe mạnh. Mặc khác, cháu H có nguyện vọng được ở với mẹ đẻ là chị Hà Thị N. Tuy anh Tô Anh Đ không nhất trí giao cháu H cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng nhưng bản thân anh cũng thừa nhận có lần đã dọa cháu H, việc này sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của cháu.
Vì vậy, để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Tô Gia H thì cần giao cháu H cho chị Hà Thị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế và nguyện vọng của con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N và anh Đ thỏa thuận được mức cấp dưỡng cho cháu H là 1.000.000 đồng/tháng, kể từ ngày 04-01-2020 nên cần chấp nhận.
Về án phí: Anh Tô Anh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con. Chị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 82; khoản 2, khoản 3 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 26, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của chị Hà Thị N: Giao cho chị Hà Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Tô Gia H, sinh ngày 24-4-2010 cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có thay đổi. Anh Tô Anh Đ cấp dưỡng cho cháu H là 1.000.000 đồng/tháng, kể từ ngày 04-01-2020.
Đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của chị Hà Thị N cho đến khi thi hành án xong, anh Tô Anh Đ còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
2. Về án phí: Anh Tô Anh Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con. Tổng số tiền là: 600.000đ (Sáu trăm nghìn) đồng (anh Đ chưa nộp).
Chị Hà Thị N được trả lại số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp tại biên lai số 0006959 ngày 24-11-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Bình.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện Yên Bình; - THADS huyện Yên Bình; - Các đương sự; - Lưu HS, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thị Thanh Nga |