vanban.org

Bản án 04/2021/DSST — Tranh chấp quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng các Điều 245; 248; 254 và 256 của Bộ luật dân sự.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan T H, bà Nguyễ n T T N , buộc bị đơn ông Nguyễ n V H , bà Phạm Th L phải có nghĩa vụ mở lối đi chung, lối đi n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Phan T H Lối đi"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng các Điều 245; 248; 254 và 256 của Bộ luật dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 245 Bộ luật Dân sự; Điều 248 Bộ luật Dân sự; Điều 254 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ ĐĂNG
TỈNH BÌNH PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 04 /2021/DS-ST
Ngày: 25/1/2021
V/v:“Yêu cầu mở lối đi qua
bất động sản liền kề”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƢỚC

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Xuyến

Các Hội thẩm nhân dân:

1.ông Nguyễn Mạnh Dũng

2.ông Nguyễn Quang Liêu

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: bà Mai Thị Chang - Cán bộ Tòa án huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa: ông An Bắ c Lừ ng – Chức vụ Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 199/2020/DS-ST, ngày 14/10/2020 về việc "Yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 199/2020/QĐST – SD, ngày 30 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự: Nguyên Đơn : ông Phan T H;

sinh năm 1979

bà Nguyễ n T T N;

sinh năm 1981

Địa chỉ : Thôn 3, xã M H, huyện B Đ, tỉnh Bình Phước. Ngườ i đạ i diệ n theo ủ y quyề n: Đặng H M Á . ( có mặt ) Đị a chỉ : Khu Đứ c Lậ p – TT Đứ c Phong- Bù Đăng – Bình Phước Bị đơn: ông Nguyễ n V H;

sinh năm 1955 ( vắ ng mặ t )

bà Phạm Th L;

sinh năm 1956 ( vắ ng mặ t ) Địa chỉ : Thôn 3, xã M H, huyện B Đ, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27/8/2020 và lời khai tiếp theo nguyên đơn trình bày:

Gia đình ông có thửa đất tọa lạc tại Thôn 3, xã M H, huyện B Đ, tỉnh Bình Phước, nguồn gốc mua của ông Trấ n Chí Lễ , bà Trầ n Thị Huyề n năm 2010, sau khi nhậ n sang nhượ ng thì chú ng tôi đã xây nhà để ở từ đó đến nay, lối đi duy nhất là đi ngang qua thử a đấ t nhà ông Hóa , ông Hó a đồ ng ý hiế n đấ t cho làm lối đi và đế n năm 2018 thì các hộ dân bên trong cũ ng đi qua con đườ ng nà y đã góp tiền làm chung con đường bê tông rộng 2m là m lố i đi chung. Nhưng sau đó ông Hó a lạ i bá n phầ n đấ t có lố i đi nà y cho ngườ i khá c , chúng tôi không có lố i đi nữ a. Nay yêu cầ u ông Hó a mở lối đi chiều rộng 3m, theo vị trí mà chú ng tôi yêu cầ u và Tò a á n đã xem xé t thẩ m đị nh . Đồng thờ i yêu cầ u đổ lạ i đườ ng bê tông , dày 15 cm,chiề u dà i theo lố i đi, trị giá đường bê tông 50.000.000đ.

Bị đơn ông Nguyễ n V H, bà Phạm Th L thố ng nhấ t trình bày: Gia đì nh ông có thử a đấ t tọa lạc tại Thôn 3, xã M H, huyện B Đ, tỉnh Bình Phước, thử a đấ t số 18, tờ bả n đồ 22, diệ n tí ch đấ t nay cò n 4367,5m2 đấ t đã có giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t số BX 363804 do UBND huyệ n Bù Đăng cấ p ng ày 20/1/2015.Trướ c đây gia đì nh tôi có tự nguyệ n cho mở lố i đi ngang qua vườ n , chiề u rộ ng lố i đi 2m, sau đó cá c hộ dân đã đổ đườ ng bê tông xi măng. Vì an ninh trật tự phức tạp nên tôi không cho đi lối cũ nữa . Nay tôi đồ ng ý cho mở lố i đi mớ i 3m vị trí khác theo yêu cầu của nguyên đơn, tôi đồ ng ý là m lạ i đườ ng bê tông dà y 15cm, trị giá 50.000.000đ, tôi không nhậ n bồ i thườ ng đấ t vì lố i đi cũ tôi đã tự nguyệ n đó ng góp cho dân, nhưng hiệ n nay tôi chưa có khả năng là m đườ ng.

Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát nêu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định về tố tụng. Về thời hạn đã quá theo luật định.

Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải có nghĩa vụ mở lối đi cho nguyên đơn .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của người tham gia tố tụng, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Phan T H, bà Nguyễ n T T N khởi kiện bị đơn ông Nguyễ n V H , bà Phạm Th L đang cư trú tại thôn 3, xã M H, huyện B Đ để yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về việc “Yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề". Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Phan T H, bà Nguyễ n T T N có nhà và đất ở ở phía trong cùng nhiều hộ dân khác , lố i đi duy nhấ t là đi ngang qua đấ t nhà ông Nguyễ n V H, bà Phạm Th L , thử a đấ t tọa lạc tại thôn 3, xã Minh Hưng , huyệ n Bù Đăng, tỉnh Bình Phướ c, đấ t đã có giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t số BX 363804 do UBND huyệ n Bù Đăng cấ p ng ày 20/1/2015, diệ n tí ch 4367,5m2 , trướ c đây ông Hó a và bà Lê đã tự nguyện hiế n đấ t cho mở đườ ng là m lố i đi c hiề u rộ ng 2m và cá c hộ dân đã đó ng góp làm đường bê tông năm 2018, vì lối đi cũ nhỏ không bảo đảm an toàn và an ninh trật tự

nên ông Hó a không cho đi nữ a , nay đồ ng ý cho mở lố i đi mớ i chiề u rộ ng 3 m, chiề u dà i 108,91m, diệ n tích lối đi là 324,3m2, Hộ i đồ ng xé t xử xé t thấ y việ c mở lố i đi là phù hợ p do vậ y cầ n chấ p nhậ n yêu cầ u củ a nguyên đơn , diệ n tí ch đấ t 324,3m2 đượ c dùng làm lối đi chung , có sơ đồ kèm theo.

Về đườ ng bê tông, ông Hó a và bà Lê thừ a nhậ n con đườ ng cũ trướ c đây do nhiề u hộ dân đó ng gó p là m đườ ng bê tông , nay mở lố i đi mớ i nên ông Hò a và bà Lê thừ a nhậ n chị u trách nhiệm làm lại đường bê Tông chiều rộng 3m, chiề u dà i 108,91m, dày 15cm nhưng hiệ n n ay vì gia đì nh khó khăn nên chưa là m .xét thấy việc đổ lại đường bê tông là tránh nhiệ m củ a ông Hóa và bà Lê, do vậ y ông hó a và bà Lê chị u trá ch nhiệ m đổ lạ i đườ ng bê tông trị giá 50.000.000đ mà cá c bên đã thỏ a thuậ n..

Thiệ t hạ i giá trị quyề n sử dụ ng đấ t, bị đơn không yêu cầu nên không xem xét.

Chi phí xác minh, đo vẽ, thẩm định mà nguyên đơn đã tự nguyệ n nộp, không yêu cầ u giả i quyế t nên không xem xé t.

Về án phí, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu theo quy định 300.000đ.

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà nguyên đơn đã nộ p.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 245; 248; 254 và 256 của Bộ luật dân sự.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan T H, bà Nguyễ n T T N , buộc bị đơn ông Nguyễ n V H , bà Phạm Th L phải có nghĩa vụ mở lối đi chung, lối đi ngang qua phần đất nhà ông Nguyễ n V H , bà Phạm Th L , thử a đấ t tọa lạc tại Thôn 3, xã M H, huyện B Đ, tỉnh Bình Phước, thử a đấ t số 18, tờ bả n đồ 22, chiều rộng mở lối đi 3m, chiều dài lối đi 108,91m, diệ n tí ch lố i đi 324,3m2 kí hiệu các đỉnh điểm tọa độ 1; 27; 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9; 10; 11; 12; 13 ( Có sơ đồ đo vẽ ngày 06/11/2020, ký ngày 07/11/2020 của Công ty TNHH –MTV đo đạc bản đồ và trắc địa công trình 401 kèm theo ). buộc bị đơn ông Nguyễ n V H , bà Phạm Th L làm lại diện tích đường bê tông nêu trên , độ dà y đườ ng bê tông 15 cm, ( trị giá đường bê tông 50.000.000đ ). Kiế n nghị ủ y ban nhân dân huyệ n Bù Đăng thu hồ i phầ n diệ n tích đất 324,3m2 nêu trên của ông Nguyễ n V H, bà Phạm Th L để làm lối đi chung

ông Nguyễ n V H , bà Phạm Th L liên hệ cơ quan có thẩ m quyề n để cấ p lạ i giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t vớ i phầ n diệ n tí ch đấ t còn lại sau khi trừ diện tích đất làm lối đi chung.

Về hưởng quyền về lối đi qua bất động sản liền kề sẽ chấm dứt trong các trường hợp quy định tại Điều 256 của Bộ luật dân sự năm 2015. [2]Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông ông Nguyễ n V H , bà Phạm Th L phải liên đới nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộ p 300.000đ cho nguyên đơn ông Phan T H, bà Nguyễn Thị Tuyết , theo biên lai thu tiề n tạm ứng án phí số 015684 ngày 14/10/2020.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự. [3] Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích lục bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú .

Cỡ chữ