vanban.org

Bản án 04/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn –Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T – CN Đăk Lăk – PGD CK. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Bản án DSST Ngân hàng Sài gòn Thương T - Thái Quang p"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG BÔNG
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2021/DS-ST
Ngày: 26/3/2021
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐẮK LẮK

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Rmah In: Phó Chủ tịch hội người cao tuổi huyện Krông Bông

2. Ông Nguyễn Ngọc Minh : Phó Chủ tịch hội cựu chiến binh huyện Krông Bông

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Tấn Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Bông,tỉnh Đắk Lắk.

-

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông tham gia phiên

tòa: Bà Phạm Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Bông xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2020/TLST- DS ngày 18 tháng 01 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2021/QĐXX-DS ngày 22 tháng 01 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2021/QĐST-DS ngày 10/3/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Sài Gòn Thương T

Địa chỉ: Số 266 – 268 Nam Kỳ Khởi N, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Xuân L - Trưởng phòng giao dịch huyện CK, Đắk Lắk

Địa chỉ: Số 16 A Buôn Ea K, xã Ea B, huyện CK, tỉnh Đắk Lăk

Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Kim L

Chức vụ: Chuyên viên Quản lý tín dụng - phòng giao dịch huyện CK, Đắk Lắk

- Bị đơn: Ông Thái Quang P, sinh năm: 1986

Địa chỉ: Thôn B, xã HS, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - ông Hoàng Xuân L trình bày:

Ngày 16/03/2016, Ông Thái Quang P có ký với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T – CN Đăk Lăk – PGD CK (gọi tắt là Sacombank), Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Sacombank– các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của Ông Thái Quang P, Sacombank đã đồng ý cấp thẻ tín dụng (Bao gồm Thẻ Family số thẻ 970403 – 4353 lãi suất 2,5%/tháng, Master Card số thẻ 512341 – 2349 lãi suất 2,15%/ tháng, đến tháng 08/2019 điều chỉnh là 2,6%/tháng đối với cả hai thẻ, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn) với tổng hạn mức sử dụng là 20,000,000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, Ông Thái Quang P đã thực hiện các giao dịch đến ngày 26/03/2021 như sau:

Tổng số tiền sử dụng là: 84,554,127 đồng;

Lãi, phí phát sinh: 35.111.200 đồng;

Tổng số Tiền đã thanh toán: 85. 393.000 đồng

Tổng số tiền còn nợ chưa thanh toán: 34.272.327 đồng

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng Ông Thái Quang P vẫn không có thiện chí trả nợ. Do Ông Thái Quang P vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Sacombank), ngày 29/02/2020 Sacombank đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Sacombank).

a. Thẻ Family: số thẻ 970403 - 4353

Nợ gốc: 6,889,060 đồng

Lãi quá hạn: 3.761.520 đồng

Tổng cộng: 10.650.580 đồng (Bằng chữ: Mười triệu sáu trăm năm

mươi nghìn năm trăm tám mươi đồng)

b. . Thẻ Master Card: số thẻ 512341 - 2349

Nợ gốc: 15.279.287 đồng

Lãi quá hạn: 8.342.460 đồng

Tổng cộng: 23.621.747 đồng (Bằng chữ: Hai mươi ba triệu sáu trăm

hai mươi mốt nghìn bảy trăm bốn mươi bảy đồng)

Tổng số tiền phải thanh toán của 2 thẻ trên là: 34.272.327 đồng (Bằng chữ: Ba mươi bốn triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn ba trăm hai mươi bảy đồng)

Mặc dù Sacombank đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông Thái Quang P, yêu cầu ông Thái Quang P có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Sacombank cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông Thái Quang P trả nợ, tuy nhiên ông Thái Quang P vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Sacombank, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Hiện nay khoản vay của ông Thái Quang P đã chuyển nợ quá hạn, vì vậy Sacombank yêu cầu ông Thái Quang P phải thanh toán ngay tổng số tiền là 34.272.327 đồng (Bằng chữ: Ba mươi bốn triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn ba trăm hai mươi bảy đồng). phát sinh từ thẻ Family, Master trong đó:

• Nợ gốc: 22,168,347 đồng

• Lãi quá hạn: 12.103.980 đồng

và ông Thái Quang P phải chịu các chi phí thu hồi nợ liên quan và tiếp tục trả lãi quá hạn phát sinh như hợp đồng đã ký kết đến khi thanh toán hết toàn bộ dư nợ.

Tòa án nhân dân huyện Krông Bông đã triệu tập bị đơn ông Thái Quang P lên Tòa án làm việc nhiều lần nhưng ông Thái Quang P vẫn vắng mặt.

Tại biên bản xác minh ngày 21/01/2021, chính quyền xã HS, KB, Đăk Lăk cho biết: Ông Thái Quang P có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn B, xã HS, KB, Đăk Lăk . Tuy nhiên, hiện nay ông Thái Quang P đang đi làm ăn xa, đi đâu không thông báo tạm vắng với chính quyền địa phương. Ông Thái Quang P thường xuyên đi đi về về, không cố định ngày giờ cụ thể. Ông Thái Quang P không đăng ký tạm vắng nên địa phương không biết hiện nay ông Thái Quang P sinh sống ở đâu, làm gì.

Tại biên bản xác minh ngày 21/01/2021, ông Thái C là cha đẻ của ông Thái Quang P cho biết: Anh Thái Quang P là con trai ông, hiện có đăng ký hộ khẩu thường trú và làm ăn sinh sống ở tại địa phương, trong hộ khẩu gia đình ông. Tuy nhiên, hiện nay do làm ăn thua lỗ nên anh Thái Quang P đang đi làm ăn tại thành phố Buôn Ma Thuột, con trai ông thường xuyên đi đi về về. Gia đình có nhận được các thông báo và giấy triệu tập cho con trai ông là Thái Quang P lên Tòa án nhân dân huyện Krông Bông làm việc. Gia đình ông có giao và báo cho anh Thái Quang P, tuy nhiên anh Thái Quang P nói đang cố gắng làm để trả nợ. Do anh Thái Quang P không cho gia đình biết địa chỉ nơi ở và nơi làm việc nên gia đình không thể cung cấp địa chỉ nơi ở và nơi làm việc của anh Thái Quang P cho Tòa án. Gia đình chỉ liên lạc với anh Thái Quang P qua điện thoại.

Đại diện Tòa án nhân dân huyện Krông Bông đã tiến hành niêm yết thông báo thụ lý vụ án số 03/2021 và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật nhưng anh Thái Quang P vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa ngày 10/3/2021, Tòa án nhân dân huyện Krông Bông đã hoãn phiên tòa vì bị đơn anh Thái Quang P vắng mặt lần thứ nhất không lý do .

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông phát biểu ý kiến về trình tự, thủ tục của vụ án đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật.

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào Nghị án, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Mặc dù, Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, Đăk Lăk đã triệu tập ông Thái Quang P đến tham dự phiên tòa nhưng ông Thái Quang P vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Đây là lần thứ hai phiên tòa được mở. Do vậy, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, Đăk Lăk vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung: : Ông Thái Quang P ký hợp đồng tín dụng Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Sacombank– các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của anh Thái Quang P, Sacombank đã đồng ý cấp thẻ tín dụng (Bao gồm Thẻ Family số thẻ 970403 – 4353 lãi suất 2,5%/tháng, Master Card số thẻ 512341 – 2349 lãi suất 2,15%/ tháng, đến tháng 08/2019 điều chỉnh là 2,6%/tháng đối với cả hai thẻ, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn) với tổng hạn mức sử dụng là 20,000,000 đồng. Anh Thái Quang P đã sử dụng thẻ để chi tiêu với số tiền ghi nợ đến ngày 26/03/2021 là 34.272.327 đồng ( cả gốc và lãi phát sinh).

Tuy nhiên, cho đến nay, anh Thái Quang P chưa thanh toán được cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T – CN Đăk Lăk – PGD CK. Số tiền này.

Do vậy, việc Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T – CN Đăk Lăk – PGD CK yêu cầu anh Thái Quang P phải thanh toán ngay tổng số tiền là 34.272.327 đồng (Bằng chữ: Ba mươi bốn triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn ba trăm hai mươi bảy đồng). phát sinh từ thẻ Family, Master trong đó: Nợ gốc: 22,168,347 đồng và Lãi quá hạn: 12.103.980 đồng. Tổng cộng là 34.272.327 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị đơn phải chịu toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở lời trình bày của đương sự cũng như qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về thủ tục tố tụng: Đây là lần thứ hai phiên tòa được mở nhưng bị đơn ông Thái Quang P vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Mặc dù, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thôn B, HS, huyện KB, tỉnh Đăk Lăk.

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T – CN Đăk Lăk – PGD CK yêu cầu Tòa án buộc ông Thái Quang P phải trả khoản vay theo hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T – CN Đăk Lăk – PGD CK với ông Thái Quang P, đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về nội dung vụ án: Ông Thái Quang P ký hợp đồng tín dụng Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Sacombank– các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Thái Quang P, Sacombank đã đồng ý cấp thẻ tín dụng (Bao gồm Thẻ Family số thẻ 970403 – 4353 lãi suất 2,5%/tháng, Master Card số thẻ 512341 – 2349 lãi suất 2,15%/ tháng, đến tháng 08/2019 điều chỉnh là 2,6%/tháng đối với cả hai thẻ, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn) với tổng hạn mức sử dụng là 20,000,000 đồng. Anh Thái Quang P đã sử dụng thẻ để chi tiêu với số tiền ghi nợ đến ngày 26/03/2021 là 34.272.327 đồng ( cả gốc và lãi phát sinh).

Tuy nhiên, cho đến nay, anh Thái Quang P chưa thanh toán được cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T – CN Đăk Lăk – PGD CK số tiền này.

Do vậy, việc Ngân hàng Sacombank yêu cầu anh Thái Quang P phải thanh toán ngay tổng số tiền là 34.272.327 đồng (Bằng chữ: Ba mươi bốn triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn ba trăm hai mươi bảy đồng). phát sinh từ thẻ Family, Master trong đó: Nợ gốc: 22,168,347 đồng và Lãi quá hạn: 12.103.980 đồng. Tổng cộng là 34.272.327 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Ngoài ra, ông Thái Quang P còn phải tiếp tục chịu trách nhiệm trả lãi phát sinh theo Hợp đồng , kể từ ngày 27/3/2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm là 34.272.327 đồng x5% = 1.713.616 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 157; Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 299 và Điều 463 Bộ luật dân sự; Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Áp dụng: khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn –Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T – CN Đăk Lăk – PGD CK.

Buộc anh Thái Quang P phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T – CN Đăk Lăk – PGD CK số tiền nợ gốc Nợ gốc: 22,168,347 đồng và tiền lãi phát sinh tạm tính đến ngày 22/02/2021 là và lãi quá hạn: 12.103.980 đồng , tổng cộng là 34.272.327 đồng (Bằng chữ: Ba mươi bốn triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn ba trăm hai mươi bảy đồng).

2. Về án phí: Anh Thái Quang P phải chịu 1.713.616 đồng (Một triệu

bảy trăm mười ba triệu sáu trăm mười sáu đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho Ngân hàng Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T – CN Đăk Lăk – PGD CK số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 762.000 đồng (bảy trăm sáu mươi hai ngàn đồng) theo biên lai số AA/2019/0006848 ngày 15/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản bán được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ