vanban.org

Bản án 04/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng ĐA -chị Ng, anh T"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƯNG
TỈNH THÁI BÌNH
------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số:04/2021/DS - ST
Ngày 06/7/2021
V/v: Tranh chấp hợp đồngvay
tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Hà Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Hiểnvà ông Đoàn Ngọc Sử.

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thuận Yến- Thƣ ký Tòa án

Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 7năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hƣng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sựthụ lý số 05/2021/TLST-DS ngày 01/4/2021 vềviệc: “Tranh chấp hợp đồngvay tài sản” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 07/2021/QĐXX-ST ngày 02/6/2021 và quyết định hoãn phiên tòa số08/2021/ QĐ-HPT ngày 18/6/2021giữa các đƣơng sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á

Trụ sở: 130 Phan Đăng Lƣu, Phƣờng 3, quận Phú Nhuận, TP Hồ chí Minh.

Ngƣời đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh Tuấn – Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị,Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á

Ngƣời đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị Y - Cán bộ xử lý nợ Ngân hàng TMCP Đông Á chi nhánh Thái Bình, phòng giao dịch Đông Hƣng

Bị đơn: Bà Đặng Thị Ng, sinh năm 1984

Trú tại: Thôn H N, xã L G, huyện Đ H, tỉnhT B

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1983

Trú tại: Thôn H N, xã L G, huyện Đ H, tỉnhT B

(Các đương sự đều vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong quá trình tố tụng, ngƣời đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Átrình bày: Ngày 20/9/2018 Ngân hàng thƣơng mại cổ phầnĐôngÁ chi nhánh Thái Bình, phòng giao dịch Đông Hƣng (sau đây gọi tắt là ngân hàng) đã cho bà Đặng Thị Ng vay số tiền 20.000.000đồng với lãi suất 8,5%%/năm (lãi suất tính trên dƣ nợ ban đầu). Lãi quá hạn mức 12,7%/năm (bằng 1,5 lần mức lãi cho vay trong hạn). Thời hạn vay 18 tháng với mục đích kinh doanh. Hình thức thanh toán trả gốc và lãi hàng tháng theo bảng dự tính RULE78. Chia làm18kỳ mỗi kỳ 01 tháng kể từ 20/9/2018. Việc vay vốn dƣới hình thức tín chấp thông qua hội phụ nữ xã L G và ông Nguyễn Ngọc T là chồng bà Ng ký bảo lãnh.

Sau khi bà Ng làm thủ tục vay vốn, ký giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ƣớc nhận nợ.Ngân hàng đã thực hiện cho bà Ng nhận nợ theo hình thức báo có vàosố tài khoản 0110080665 của bà Đặng Thị Ng mở tại Ngân hàng, ngày 20/9/2018 số tiền 20.000.000 đồng. Bà Ng đã rút số tiền 20.000.000 đồng tại tài khoản của mình cùng ngày tại Ngân hàng. Sau khi vay vốn của Ngân hàng bà Ng đã thực hiện trả nợ cho Ngân hàng đầy đủ cho đến tháng 12/2019 thì dừng không trả cho Ngân hàng theo hợp đồng đã kí kết. Sau đó đến ngày 12/6/2020 bà Ng tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng số tiền 1.000.000 đồng Ngân hàng trừ toàn bộ vào tiền gốc. nhƣ vậy đến ngày 12/6/2020 dƣ nợ gốc là 2560.526 đồng và lãi trong hạn là 89.474 đồng

Từ tháng 12/2019 bà Ng đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ nợ gốc phải trả trong hạn sang nợ quá hạn. Do vậy tính đến ngày hôm nay 06/7/2021 thì số tiền lãi quá hạn đã tăng lên 504, 458 đồng. Do vậy nay Ngân hàngyêu cầu bà Ng phải trả nợ cho Ngân hàng Đông Á, Chi nhánh Thái Bình, Phòng giao dịch Đông Hƣng tổng số tiền là 3.154.458 đồng. Ngân hàng yêu cầu bàNg phải trả ngay cho Ngân hàng. Bà Ng là ngƣời ký kết vay vốn và nhận tiền của Ngân hàng Đông Á, ông T là ngƣời bảo lãnh, nên bà Ng, ông T phải có trách nhiệm trả nợ Ngân hàng. Ngƣời đại diện cho Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

Bị đơn bà Đặng Thị Ng vắng mặt trong quá trình tố tụng không có ý kiến trình bày.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 02/6/2021 ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc T trình bày:

Gia đình ông T, bà Ng đã nhận đƣợc thông báo thụ lý vụ số 05/2021 ngày 01/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hƣng về việc Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á kiện đòi nợ vợ chồng ông T, bà Ng số tiền vợ chồng ông T vay của Ngân hàng chƣa trả hết gồm gốc là 2.560.526 đồng, lãi trong hạn là 89.474 đồng và lãi quá hạn tính đến ngày 02/4/2021 là 416.915 đồng. Vợ chồng ông T, bà Ng đã nhận đƣợc giấy triệu tập của Tòa án nhƣng do bà Ng vợ ông T đi làm ở Công ty không thể đến trình bày theo giấy triệu tập của tòa án nên ông T đến trình bày thay cho bà Ng.

Ông T thừa nhận vợ chồng ông có vay của Ngân hàng Đông Á số tiền 20.000.000 đồng theo hình thức tín chấp thông qua hội phụ nữ xã L Gi. Vợ ông T là bà Ng trực tiếp làm thủ tục vay với Ngân hàng Đông Á, ông T là ngƣời ký bảo lãnh đối với khoản vay trên. Mục đích vợ chồng ông vay tiền để kinh doanh, thời hạn vay 18 tháng lãi suất 8,5%/năm. Ngày cho vay là ngày 20/9/2018. Ngày đến hạn là ngày 20/3/2020. Vay trả góp, mỗi tháng trả một kỳ với số tiền 1.260.000đồng. Kỳ cuối phải trả 1.230.000 đồng. Sau khi vay vợ chồng ông T vẫn thực hiện nghĩa vụ với Ngân hàng theo hợp đồng nhƣng ông T không nhớ cụ thể việc trả nợ thế nào, nhƣng đến tháng 7/2020 thì một cán bộ tín dụng của Ngân hàng xuống nhà ông T đòi nợ nhƣng vợ chồng ông T, bà Ng không có ở nhà, những lần trả nợ mẹ đẻ ông là Lƣơng Thị Nh thƣờng trả nợ thay vợ chồng nhƣng hôm đó mẹ ông T không có tiền trả thay, sau đó mẹ ông có nhận đƣợc một tin nhắn đe dọa bà với nội dung: “ Riêng bà tôi cho ngƣời phát một xuống, bà muốn tử tế tôi tử tế nhé, còn bà giở cái giọng ấy tối thứ bảy tôi cho ngƣời xuống nhà bà làm việc” nên gia đình ông T bức xúc, từ đó không trả nợ cho Ngân hàng nữa . Về các tài liệu Ngân hàng cung cấp cho Tòa án gồm đề nghị vay vốn kiêm phƣơng án trả nợ, danh sách cho vay giải ngân qua tài khoản thẻ, Bảng dự tính thu theo ruler 78 có chữ kí Ng, Đặng Thị Ng là chữ kí của bà nga vợ ông T, tại phần ngƣời bảo lãnh trong đề nghị vay vốn kiêm phƣơng án sở dụng vỗn có chữ ký T, Nguyễn Ngọc T là chữ kí của ông T. Nay Ngân hàng đòi vợ chồng ông T số nợ tính đến ngày 02/6/2021 là 3.122.233 đồng, ông T không có ý kiến gì, nhƣng vợ chồng ông T chƣa có tiền trả ngay cho Ngân hàng, vợ chồng ông T sẽ thu xếp để trả nợ cho Ngân hàng. Do công việc bận mải nên vợ chồng ông T không đến Tòa trình bày đƣợc, ông T đề nghị Tòa án không phải hòa giải và cứ xét xử vắng mặt vợ chồng ông.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hƣng phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử là với quy định của pháp luật việc chấp hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng đối với Ngân hàng đã tuân thủ quy định của pháp luậtđối với ông T, bà Ng chƣa tuân thủ quy định của pháp luật.

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã đƣợc thu thập có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra công khai tại phiên tòa, sau khi đƣơng sự trình bày ý kiến, Tòa án xét thấy:

[1]Về tố tụng:

BàĐặng Thị Ng, ông Nguyễn Ngọc T, vắng mặt lần thứ hai mặc dù đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ. Đại diện theo ủy quyền Ngân hàng thƣơng maị cổ phần Đông Á vắng mặt tại phiên tòa nhƣng đã có đơn xin xét xử vắng mặt.Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hànhxétxử vắng các đƣơng sự.

[2] Về nội dung: [2.1]Xét yêu cầu của nguyên đơn: Về việc yêu cầu bị đơn phải trả toàn bộ số tiền gốc là 2.560.526 đồng, lãi trong hạn là 89.474 đồng. Lãi quá hạntính từ 12/2019 đến ngày xét xử 06/7/2021là564 ngày số tiền lãi là 504.458 đồng, đồng thời yêu cầu bịđơn tiếp tục trả lãi theo mức lãi nợ quá hạn gấp 1,5 lần mức lãi đã thỏa thuận theo hợp đồng cho đến khi hoàn thành việc trả nợ.Hội đồng xét xử thấy rằng:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụángồm: Văn bản trình bày của bà Vũ Thị Y – là ngƣời đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á, Biên bản ghi lời khai củaông Nguyễn Ngọc T đều thừa nhậnngày 20/9/2018 bà Ng có ký hợp đồng vay vốn tại Ngân hàngĐông Á, chi nhánh Thái Bình, phòng giao dịch huyện Đông Hƣng theo Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ƣớc nhận nợ ngày 13/9/2018 với số tiền 20.000.000đồng nhƣ đại diện Ngân hàng Đông Á đã trình bày. Ông Nguyễn Ngọc T là ngƣời ký bảo lãnh nghĩa vụ trả nợ hàng kỳ cho Ngân hàng thay cho bà Đặng Thị Ng khoản vay trên.

Xét việc thỏa thuận của các đƣơng sự khi giao kết hợp đồng thể hiện trong các văn bản gồm Đề nghị vay vốn, kiêm phƣơng án sử dụng vốn (BL 18);Danh sách cho vay trả góp giải ngân qua tài khoản thẻ ( BL 17); Bảng dự tính RULE78 ( BL 15) giấy đề nghị chi vay góp qua tài khoản thẻ ( BL 16) là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, khi thỏa thuận các bên đƣơng sự đều là những ngƣời đủ năng lực trách nhiệm dân sự. Theo thỏa thuận hàng tháng bà Ng phải trả cho Ngân hàng cả gốc, và lãi là 1.260 .000đồng trong 17 tháng, riêng tháng thứ 18 phải trả số tiền 1.130.000đồng. Tuy nhiên sau khi vay tiền bà Ng đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến tháng 12/2019 thì bà Ng đã dừng việc trả nợ không thực hiện nghĩa vụ đúng nhƣ hợp đồng đã kí kết với Ngân hàng là vi phạm quy định các bên đã ký kết trong phần III Đề nghị vay vốn kiêm phƣơng án sử dụng vốn mà các bên đã giao kết ngày 13/9/2018.

Bà Ng giao kết hợp đồng vay Ngân hàng Đông Á số tiền 20.000.000 đồng, bà đã trả đƣợcsố tiền gốclà 17439.000 đồng. Lãi đã trả đến hết tháng 12/2019 còn nợ lãi trong hạn là 89.474 đồng.

Nhƣ vậy thời gian chậm trảkhoản nợ của bà Ng tính từ tháng 12/2019 – 06/7/2021là 564 ngày.

Các bên cam kết mức lãi trong hạn là 8,5%/năm, lãi quá hạn là 1,5 lần mức lãi trong hạn. Vì vậy lãi quá hạn đƣợc xác định là 12,75%/năm.

- Do vậy số tiền lãi quá hạn tính đến ngày xét xử 06/7/2021 bà Ng phải trả là 2.560.526 đồng x 12,75% x564 ngày = 504.458đồng

365

Do vậy tính đến ngày 06/7/2021 bà Ng còn nợ Ngân hàng Đông Á số tiền gồm:

- Nợgốc còn lạilà 2.560.526 đồng.

- Lãi trong hạn là 89.474 đồng.

- Lãi quá hạn là 504.458 đồng

Do vậy Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Ng phải trả nợ gốc, và lãi tính đến ngày 06/7/2021 là3.154.458 đồng và phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng theo hợp đồng đã ký kết cho đến khi trả xong nợ là có căn cứ chấp nhận.

Do ông T là chồng bà Ng đã tự nguyện cam kết tại phần IV Đề nghị vay vốn kiêm phƣơng án sử dụng vốn ngày 13/9/2018 giữa bà Nga và Ngân hàng bảo lãnh nghĩa vụ trả nợ thay cho bà Ng. Việc ông T bảo lãnh, nghĩa vụ trả nợ cho bà Ng không thuộc trƣờng hợp phải đăng ký dao dịch bảo đảm theo Điều 3 nghị định 83/2010/NĐ- CP do vậyviệc bảo lãnh trên hoàn toàn hợp pháp bà Ng không trả đƣợc nợ cho Ngân hàng thìông T phải là ngƣời có trách nhiệm trả nợ thay cho bà Ng theo đúng hợp đồng đã ký kết.

[3] Vềán phí: Yêu cầu của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á đƣợc chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu án phí.

BàNga, phải chịu án phídân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều Về điều luậtáp dụng: Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 26, Điều 35, Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết 236/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng

1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thƣơng mại cổ phầnĐông Á.

2. Buộc bà Đặng Thị Ng, sinh năm 1984 địa chỉ:Thôn H N, xã L Gi, huyện Đ H, tỉnh T B phải trả cho Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á chi nhánh Thái Bình phòng giao dịch huyện Đông Hƣng số tiền nợ gốc còn lại là 2.560.526 đồng, số tiền lãi là 593.932 đồng, tổng là 3.154.458 đồng(Ba triệu một trăm năm mƣơi tƣ ngàn bốn trăm năm mƣơi tám đồng)

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Ng còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chƣa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trƣờng hợp trong hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ đƣợc điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

Trƣờng hợp bà Ng không trả đƣợc nợ cho Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á thì ngƣời bảo lãnh là ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1983(Là chồng của bà Ng) ở địa chỉ: Thôn H N xã L Gi, huyện Đ H, tỉnh T B phải cótrách nhiệm trả nợ thay cho bà Ng.

3. Về án phí: Ngân hàng Đ Á không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả Ngân hàng Đ Á số tiền 300.00 đồng (Ba trăm năm ngàn đồng) tạm ứng án phí mà Ngân hàng Đ Á đã nộp tại biên lai thu số 0002720 ngày 01/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hƣng.

Bà Đặng Thị Ng phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo:

Các đƣơng sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- Đƣơng sự

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- Viện kiểm sát nhân dân Đông Hƣng

(Đã ký)

- Chi cục thi hànhán dân sự huyện Đông Hƣng.

- Lƣu hồ sơ vụ án;

Hà Thị Nhung THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌAPHIÊN TÒA

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN ĐÔNG HƢNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 15 giờ00 phút, ngày 06 tháng 7 năm 2021. Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hƣng .

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Hiển vàông Đoàn Ngọc Sử

Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 05/2019/TLST- DS ngày 01/4/2021 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa các đƣơng sự: Nguyên đơn: Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á

Trụ sở: 130 Phan Đăng Lƣu, Phƣờng 3, quận Phú Nhuận, TP Hồ chí Minh.

Ngƣời đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh Tuấn – Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị,Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á

Ngƣời đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị Yến - Cán bộ xử lý nợ Ngân hàng TMCP Đông Á chi nhánh Thái Bình, phòng giao dịch Đông Hƣng

Bị đơn: Bà Đặng Thị Nga, sinh năm 1984

Trú tại: Thôn Hoàng Nông, xã Lô giang, huyện Đông Hƣng, tỉnhThái Bình

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Ngọc Tú, sinh năm 1983

Trú tại: Thôn Hoàng Nông, xã Lô Giang, Huyện Đông Hƣng, Thái Bình

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

1/ Vềđiều luậtáp dụng: Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 26, Điều 35, Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết 236/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng

Tỷ lệ biểu quyết 3/3

2/ Về nội dung:

1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thƣơng mại cổ phầnĐông Á.

2. Buộc bà Đặng Thị Nga, sinh năm 1984 địa chỉ: Thôn Hoàng Nông, xã Lô Giang, huyện Đông Hƣng, tỉnh Thái Bình phải trả cho Ngân hàngthƣơng mại cổ phầnĐông Á chi nhánh Thái Bình phòng giao dịch huyệnĐông Hƣng số tiền nợ gốc cònlại là 2.560.526 đồng, số tiền lãi là 593.932 đồng, tổng là 3.154.458 đồng(Ba triệu một trăm năm mƣơi tƣ ngàn bốn trăm năm mƣơi tám đồng)

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chƣa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trƣờng hợp trong hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ đƣợc điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

Tỉ lệ biểu quyết 3/3

3/Về án phí:

Ngân hàngĐông Á không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàntrảNgân hàngĐông Á số tiền 300.00 đồng (Ba trăm năm ngàn đồng) tạm ứng án phí mà Ngân hàngĐông Áđã nộp tại biên lai thu số 0002720 ngày 01/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyệnĐông Hƣng.

Bà Đặng Thị Nga phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Tỉ lệ biểu quyết 3/3

4/ Về quyền kháng cáo: Cácđƣơng sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Tỉ lệ biểu quyết 3/3

Biên bản nghị án đã đƣợc đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe xác nhậnđúng vàký tên dƣới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌAPHIÊN TÒA

TOÀ ÁNNHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN ĐÔNG HƯNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

____________________________________

TỈNH THÁI BÌNH

__________________

Đông Hưng, ngày 18tháng 6 năm 2021

Số: 08/2021/QĐST- DS

QUYẾT ĐỊNH

HOÃN PHIÊN TÒA

TÒA ÁN NHÂN DÂNHUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Nhung

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vĩnhvà bà Nguyễn Thị Là

Thƣ ký Toà án huyện Đông Hƣng ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thuận Yến - Cán bộ Toà án.

Đại diện VKSND huyện tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế- Kiểm sát viên

Đã tiến hành mở phiên toà sơ thẩm xét xử vụ dân sự thụ lý số 05/2021/ TLST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2021 về “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 07/2021/QĐST - DS ngày 02tháng6năm 2021 giữa các đƣơng sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á

Trụ sở: 130 Phan Đăng Lƣu, Phƣờng 3, quận Phú Nhuận, TP Hồ chí Minh.

Ngƣời đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh Tuấn – Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị,Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á

Ngƣời đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị Yến - Cán bộ xử lý nợ Ngân hàng TMCP Đông Á chi nhánh Thái Bình, phòng giao dịch Đông Hƣng

Bị đơn: Bà Đặng Thị Nga, sinh năm 1984

Trú tại: Thôn Hoàng Nông, xã Lô giang, huyện Đông Hƣng, tỉnhThái Bình

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Ngọc Tú, sinh năm 1983

Trú tại: Thôn Hoàng Nông, xã Lô Giang, Huyện Đông Hƣng, Thái Bình

Xét thấy: Tại phiên tòa vắng mặt chị Nga, anh Tú, lần thứ nhất không có lý do

Căn cứ vào các Điều227 và Điều 233, 235 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý 05/2021/ TLST- DS ngày 01 tháng 4 năm 2021

2.Thời gian địa điểm mở lại phiên toà đƣợc Tòa án ấn định vào 14h 00 phút ngày 06/7/2021

Địa điểm: Tại phòng xét xử dân sự Tòa án nhân dân huyện Đông Hƣng.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- Đƣơng sự

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- Viện kiểm sát nhân dân Đông Hƣng;

- Lƣu hồ sơ vụ án;

Hà Thị Nhung TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN ĐÔNG HƯNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH THÁI BÌNH

Đông Hưng, ngày 02 tháng 6 năm 2021 Số: 07/2021/QĐST- DS

QUYẾT ĐỊNH

ĐƯA VỤ ÁN RA XÉT XỬ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƢNG, TỈNH THÁI BÌNH

Căn cứ vào Điều 48, 203 và 220 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 05/2020/TLST-DSngày 01/4/2021;

QUYẾT ĐỊNH

1/ Đƣa ra xét xử sơ thẩm vụ án dân sự: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa Nguyên đơn: Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á

Trụ sở: 130 Phan Đăng Lƣu, Phƣờng 3, quận Phú Nhuận, TP Hồ chí Minh.

Ngƣời đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh Tuấn – Chủ tịch hội đồng quản trị

Ngƣời đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị Yến – Nhân viên khách hàng Ngân hàng Đông Á chi Nhánh Thái Bình, phòng giao dịch Đông Hƣng.

Bị đơn: Bà Đặng Thị Nga, sinh năm 1984

Trú tại: Thôn Hoàng Nông, xã Lô giang, huyện Đông Hƣng, tỉnhThái Bình

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Ngọc Tú, sinh năm 1983

Trú tại: Thôn Hoàng Nông, xã Lô Giang, Huyện Đông Hƣng, Thái Bình

Thời gian mở phiên tòa: 14 giờ 00 phút ngày 18/06/2021

Địa điểm mở phiên tòa: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hƣng, tỉnh Thái Bình

Vụ án đƣợc xét xử công khai.

2/ Những người tiến hành tố tụng:

- Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Hiển và ông Lê Đình Cự

- Hội thẩm dự khuyết: Ông Hà Huy Khoa, bà Nguyễn Thị Vĩnh, bà Nguyễn Thị Là, Nguyễn Thị Thanh Hƣơng, ông Cao Gia Tuấn, Nguyễn Văn Hiển, Bùi Thị Ngọc Thùy, Ông Nguyễn Quốc Tuấn, ông Trần Ngọc Đoàn, ông Đoàn Ngọc Sử.

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Bùi Thuận Yến - Thƣ ký Tòa án.

- Thƣ ký dự khuyết:Bà Nguyễn Thị Thảo Linh, bà Nguyễn Thị Dung, ông Lê Tiến Thành

- Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Giang - Kiểm sát viên.

Kiểm sát viên dự khuyết: Ông Trần Mạnh Thắng, bà Đào Thị Kim Cúc

Nơi nhận

Thẩm phán

- Các đƣơng sự

- VKSND huyện Đông Hƣng

- Lƣu Hà Thị Nhung

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH THÁI BÌNH

Đông Hưng, ngày 12 tháng 6 năm 2020

Số: 01/2020/QĐST- KDTM

QUYẾT ĐỊNH

ĐƯA VỤ ÁN RA XÉT XỬ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƢNG, TỈNH THÁI BÌNH

Căn cứ vào Điều 48, 203 và 220 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án kinh doanh thƣơng mại sơ thẩm thụ lý số 01/2018/ TLST- KDTM ngày 01 tháng 02 năm 2018.

QUYẾT ĐỊNH

1/ Đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án dân sự: Về việc “Xử lý tài sản thế chấp” theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 08/4/2011 đƣợc ký kết giữa ông Vũ Văn Hùng và bà Nguyễn Thị Luyện với Ngân hàng thƣơng mại cổ phần quốc tế Việt Nam (VIB) phần bị hủy của bản án kinh doanh thƣơng mại số 01/2014/KDTM - ST ngày 10/01/2014 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hƣng tỉnh Thái Bình về vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa: giữa

Nguyên đơn: Ngân hàng thƣơng mại cổ phần quốc tế Việt nam (VIB)

Địa chỉ: Tầng 6, số 16, đƣờng Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội;

Ngƣời đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc Vũ – Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị.

Ngƣời đại diện theo ủy quyền: Ông LOICFAUSIER- Phó tổng giám đốc

Ông LOICFAUSIER ủy quyền cho Ông Đỗ Ngọc Tuyên và ông Hoàng Tiến Hƣng – Cán bộ xử lý nợ của Ngân hàng VIB tham gia tố tụng. Bị đơn: Ông Nguyễn Duy Hợp, sinh năm 1981- Chủ doanh nghiệp tƣ nhân thép Đông Hƣng

Địa chỉ: Xóm 2, thôn Văn Ông Đoài, xã Đông Vinh, huyện Đông Hƣng, tỉnh Thái Bình.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Vũ Văn Hùng, sinh năm 1958;

2. Bà Nguyễn Thị Luyện, sinh năm 1964;

3. Cụ Nguyễn Thị Thơ, sinh năm 1921;

4. Vũ Thùy Linh, sinh năm 1990;

5. Chị Vũ Mỹ Linh, sinh năm 1993;

Đều ở địa chỉ: Số nhà 252 phố Thúy Lĩnh, tổ dân phố số 27, phƣờng Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.

6. Ông Vũ Văn Sửu, sinh năm 1949 (đã chết)

Địa chỉ: Số 12A1, khu tập thể điện lực, ngõ 51, đƣờng Nguyễn Khoái, phƣờng Bạch Đằng, quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội.

Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Sửu:

1.Bà Vũ Thị Phiến, sinh năm 1956 (Là vợ ông Sửu)

2.Anh Vũ Tuấn Anh, sinh năm 1978 (Là con ông Sửu)

3.Chị Vũ Mai Anh, sinh năm 1980 (Là con ông Sửu)

Đều ở địa chỉ: Số nhà 12A1, khu tập thể điện lực, ngõ 51, đƣờng Nguyễn Khoái, phƣờng Bạch Đằng, quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội.

Thời gian mở phiên tòa: 13 giờ 30 phút, ngày 30 tháng 6 năm 2020

Địa điểm mở phiên tòa: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hƣng, tỉnh Thái Bình – số 22 đƣờng Nguyễn Văn Năng, thị trấn Đông Hƣng, huyện Đông Hƣng, tỉnh Thái bình.

Vụ án đƣợc xét xử công khai.

2/Những người tiến hành tố tụng:

- Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung

- Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vĩnh và ông Lê Đình Cự

- Hội thẩm dự khuyết: Ông Hà Huy Khoa; bà Nguyễn Thị Là; bà Nguyễn Thị Hoa; ông Mai Quý Hiệp; bà Bùi Thị Ngọc Thùy; ông Nguyễn Quốc Tuấn; ông Cao Gia Tuấn; ông Nguyễn Văn Hiển; ông Lại Thành Kiên; ông Trần Ngọc Đoàn; ông Vũ Anh Tuấn; ông Nguyễn Thế Trung.

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Trịnh Lê Nhung - Thƣ ký Tòa án.

- Thƣ ký dự khuyết: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh, ông Lê Tiến Thành, bà Nguyễn Thị Dung.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Giang - Kiểm sát viên.

- Kiểm sát viên dự khuyết : Bà Vũ Thị Huế, bà Đào Thị Trà Giang, ông Nguyễn Thanh Tùng. Nơi nhận:

THẨM PHÁN

- Đƣơng sự;

- Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;

- Lƣu hồ sơ vụ án.

Hà Thị Nhung

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN ĐÔNG HƢNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 15 giờ phút, ngày 18 tháng 6 năm 2021. Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hƣng .

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vĩnh và bà Nguyễn Thị Là

Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 05/2019/TLST- DS ngày 01/4/2021 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 07/2021/QĐXX- ST ngày 02/6/2021 giữa các đƣơng sự: Nguyên đơn: Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á

Trụ sở: 130 Phan Đăng Lƣu, Phƣờng 3, quận Phú Nhuận, TP Hồ chí Minh.

Ngƣời đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh Tuấn – Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị,Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á

Ngƣời đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị Yến - Cán bộ xử lý nợ Ngân hàng TMCP Đông Á chi nhánh Thái Bình, phòng giao dịch Đông Hƣng

Bị đơn: Bà Đặng Thị Nga, sinh năm 1984

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Ngọc Tú, sinh năm 1983

Đều trú tại: Thôn Hoàng Nông, xã Lô Giang, Huyện Đông Hƣng, Thái Bình

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

Tại phiên tòa vắng mặtchịNga, anh Tú lần thứ nhất.

Căn cứ vàoĐiều227 và Điều 233, 235 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyếtđịnh hoãn phiên tòa.

Tỷ lệ biểu quyết 3/3

Biên bản nghị án đã đƣợc đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe xác nhậnđúng vàký tên dƣới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN ĐÔNG HƢNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH THÁI BÌNH

---***---

Đông Hƣng, ngày 14 tháng 8 năm 2018 Số 03 /2018/TB-TA

THÔNG BÁO

VỀ VIỆC KHÁNG CÁO

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH.

Kính gửi: - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng.

- Chị Phạm Thị Hiếusinh năm 1967

- Anh Nguyễn Trọng Công sinh năm 1962

TQ: Thôn Nam Song, xã Đông Hà, huyện Đông Hƣng, tỉnh Thái Bình.

Ngày 08 tháng 8 năm 2018, Tòa án nhân dân huyện Đông Hƣng nhận đƣợc đơn kháng cáo của: Chị Phạm Thị Yếnsinh năm 1974

Anh Phạm Văn Long, sinh năm 1973

HKTT: Thôn Nam Song, xã Đông Hà, huyện Đông Hƣng, tỉnh Thái Bình

Tạm trú tại: Thôn Nam Đồng Hải, xã Đông Vinh, huyện Đông Hƣng, Tỉnh Thái Bình

Kháng cáo bản án số 08/2018/DS-ST ngày 18/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hƣng.

Những vấn đề cụ thể trong đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm: Kháng cáo toàn bộ bản án số 08/2018/DS- ST ngày 18/7/2018 Kèm theo đơn kháng cáo, ngƣời kháng cáo đã nộp các tài liệu, chứng cứ bổ sung sau đây: Không.

Căn cứ vào Điều 277 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án dân nhân huyện Đông Hƣng thông báo cho: Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hƣng, chị Hiếu, anh Công đƣợc biết.Sau khi nhận đƣợc thông báo này, ngƣời đƣợc thông báo có quyền gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo và các tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có). Nơi nhận:

THẨM PHÁN

- Các đƣơng sự -Lƣu hồ sơ vụ án.

Hà Thị Nhung

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Án số: /2018/DS - ST Ngày / /2018 V/v Đòi nợ Hiếu Công - Yến

Long

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hiển

2. Bà Nguyễn Thị Là

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thuận Yến – Thƣ ký Tòa án

- Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa:

Bà Lại Thị Giang – Kiểm sát viên

Ngày tháng năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hƣng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2017/TLST-DS ngày 29/01/2018 về Dân sự theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 07/2018/QĐXX-ST ngày 22/5/2018 giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Hiếu sinh năm 1967

Anh Nguyễn Trọng Công sinh năm 1982

TQ: Thôn Nam Song, xã Đông Hà, huyện Đông Hƣng, tỉnh Thái Bình

Anh Công ủy quyền cho chị Hiếu tham gia tố tụng tại Tòa án.

Văn bản ủy quyền ngày 31/01/2018.

- Bị đơn: Chị Phạm Thị Yến sinh năm 1974

Anh Phạm Văn Long sinh năm 1973

HKTT: Thôn Nam Song, xã Đông Hà, huyện Đông Hƣng, tỉnh Thái Bình

Tạm trú tại: Thôn Nam Đồng Hải, xã Đông Vinh, huyện Đông Hƣng, Tỉnh Thái Bình

(Tại phiên tòa có mặt Chị Hiếu, vắng mặt anh Công,.....)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Phạm Thị Hiếu và anh Nguyễn Trọng Công thống nhất trình bày: Tháng 4/2010 vợ chồng chị có bán cho vợ chồng anh Phạm Văn Long và chị Phạm Thị Yến hàng cỏ chiếu cói. Trong quá trình mua bán đến ngày 05/5/2014 hai bên chốt sổ xác nhận công nợ, sau đó cùng nhau lên UBND xã Đông Hà nhờ chính quyền xác nhận với nội dung vợ chồng anh Long, chị Yến còn nợ vợ chồng anh Công chị Hiếu số tiền gốc là 257.000.000đồng đồng thời hai bên thỏa thuận tính lãi với lãi xuất 1%/tháng, và hẹn đến ngày 05/5/2016 anh Long, chị Yến phải trả hết gốc và lãi.

Đến ngày 27/4/2016 vợ chồng anh Long, chị Yến đến khất nợ. Hai bên lại lập biên bản gia hạn nợ đến ngày 10/7/2016. Nhƣng đến ngày 10/7/2016 vợ chồng anh Long vẫn không thực hiện việc trả nợ.

Ngày 01/8/2016 hai bên lại ra UBND xã Đông Hà xác nhận việc gia đình tôi gia hạn cho vợ chồng anh Long, chị Yến đến ngày 01/8/2017 phải trả toàn bộ gốc và lãi, đồng thời anh Long, chị Yến còn thỏa thuận nếu đến ngày 01/8/2017 mà anh Long, chị Yến không trả toàn bộ tiền gốc và lãi theo cam kết thì sẽ chịu trách nhiệm bằng cách tự nguyện chuyển quyền sở hữu nhà và quyền sở hữu thửa đất số 2.14 - 8 tờ bản đồ số 04/DC địa chỉ thôn Nam Song, xã Đông Hà, huyện Đông Hƣng, tỉnh Thái Bình diện tích là 132,5m2 cho vợ chồng tôi sử dụng. Tuy nhiên đến nay anh Long, chị yến không thực hiện việc trả nợ nhƣ đã cam kết nên anh Công, chị Hiếu đề nghị Tòa án buộc anh Long, chị Yến phải trả nợ cho anh Công, chị Hiếu số tiền gốc là 257.000.000đ gốc và tiền lãi theo đúng thỏa thuận với mức 1%/tháng tính từ ngày 05/5/2014 cho đến nay. Đồng thời đề nghị Tòa án buộc anh Long chị Yến phải tiếp tục trả lãi theo quy định của pháp luật cho đến khi anh chị hoàn thành việc trả nợ cho vợ chồng anh Công, chị Hiếu.

Bị đơn chị Phạm Thị Yến và anh Phạm Văn Long thống nhất trình bày: Trƣớc đây vợ chồng anh Long, chị Yến có mở một cơ sở sản xuất chiếu cói và có mua hàng của anh Công, chị Hiếu. Tuy nhiên đến năm 2014 do anh Long, chị Yến làm ăn không may bị khách hàng lừa nên không có tiền trả nợ anh Công, chị Hiếu. Ngày 05/5/2014 vợ chồng anh Long, chị Yến còn nợ anh Công, chị Hiếu số tiền 250.000.000đ và đã ký xác nhận số công nợ trên với chị Hiếu anh Công và chấp nhận trả lãi mức lãi 1%/tháng tính từ ngày 05/5/2014, đồng thời thỏa thuận đến 05/5/2016 sẽ trả hết nợ.

Sau ngày 05/5/2014 hai bên vẫn tiếp tục làm ăn với nhau vợ chồng chị Yến , anh Long lại nợ thêm anh Công, chị Hiếu 7.000.000đ. Nhƣ vậy tổng số vợ chồng anh Long, chị Yến còn nợ vợ chồng anh Công, chị Hiếu 257.000.000đ .

Tháng 04/2016 do làm ăn thua lỗ vợ chồng anh Long, chị Yến phải bán máy dệt chiếu đi. Sau khi bán máy dệt chiếu, anh Long, chị Yến đã mang 70.000.000đ đến nhà chị Hiếu để trả nợ, nhƣng anh Công chị Hiếu không nhận mà yêu cầu vợ chồng anh Long, chị Yến phải trả toàn bộ số nợ gốc và lãi nhƣ đã thỏa thuận vào ngày 05/5/2014. Do vậy chị Yến đã cầm tiền về. Đến ngày 01/8/2016 anh Long, chị yến vẫn không có tiền trả nợ cho anh Công, chị Hiếu nên hai bên đã viết giấy thỏa thuận xác định vợ chồng anh Long, chị yến còn nợ vợ chồng anh Công, chị Hiếu số tiền gốc là 257.000.000đồng từ ngày 05/5/2014 và chấp nhận trả lãi với mức lãi 1%/tháng. Đồng thời vợ chồng tôi thỏa thuận nếu đến ngày 01/8/2017 vợ chồng anh Long, chị Hiếu không trả đƣợc nợ sẽ tự nguyện chuyển quyền sở hữu thửa đất số 2.14 - 8 tờ bản đồ số 04/DC địa chỉ thôn Nam Song, xã Đông Hà, huyện Đông Hƣng, tỉnh Thái Bình diện tích là 132,5m2 cho vợ chồng anh Công, chị Hiếu sử dụng.

Ngày 01/8/2017 vợ chồng anh Long, chị Yến chƣa có tiền trả toàn bộ gốc, lãi nhƣng đã dồn đƣợc 257.000.000đ mang ra UBND xã Đông Hà để trả số nợ gốc cho vợ chồng anh Công, chị Hiếu. Nhƣng vợ chồng anh Công, chị Hiếu không nhận Do anh Công chị Hiếu không nhận số tiền 257.000.000đ trên trong khi anh Long, chị Yến đã mang trả từ ngày 01/8/2017 nên nay anh Long, chị Yến chỉ chấp nhận trả cho anh Công, chị Hiếu số tiền gốc là 257.000.000đ và chấp nhận trả lãi cho anh Công, chị Hiếu trong khoảng thời gian 01 năm từ 01/8/2016 - 01/8/2017 theo mức lãi xuất của ngân hàng nhà nƣớc là 0.8%/tháng và lãi từ khi Tòa án xét xửcho đến khi hoàn thành việc trả nợ. Các giai đoạn khác anh Long, chị Yến không chấp nhận trả nợ vì đây là khoản tiền xuất phát từ việc hai bên mua bán hàng cỏ chiếu và chỉ đến 01/8/2016 khi chị Yến, anh Long không trả đƣợc tiền hàng nên mới chấp nhận chuyển nợ. Còn giai đoạn từ ngày 01/8/2017 đến nay do chị Yến đã mang số tiền gốc trả nợnhƣng chị Hiếu, anh Công không nhận nên chị không chấp nhận trả lãi từ 01/8/2017 đến nay.

Do vợ chồng chị Yến, anh Long bị vỡ nợ nên không có đủ điều kiện trả nợ một lúc, anh Long, chị Yến xin anh Công, chị Hiếu trả dần hàng năm sẽ dồn trả gốc trƣớc cho anh Công, chị Hiếu.

Tại phiên tòa đại diện VKSND huyện Đông Hƣng phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng đều tuân thủ đúng với quy định của pháp luật.

Về nội dung: Có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã đƣợc thu thập có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra công khai tại phiên tòa, sau khi đƣơng sự trình bày ý kiến, Tòa án xét thấy:

[1]Về tố tụng: Anh Nguyễn Trọng Công, anh Phạm Văn Long vắng mặt lần thứ hai nhƣng đã có mặt ngƣời đƣợc ủy quyền là chị Phạm Thị Hiếu, và chị Phạm Thị Yến tại phiên tòa . Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với ông anh Công, anh Long.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn: Về việc yêu cầu bị đơn phải trả toàn bộ số tiền gốc là 257.000.000đ và lãi theo mức lãi đã thỏa thuận là 1% /tháng tính từ ngày 05/5/2014 đến ngày 01/8/2017 với mức lãi xuất là 1% còn từ ngày 01/8/2017 đến nay yêu cầu anh Long chị Yến phải trả lãi theo mức lãi quá hạn theo luật dân sự quy định thì thấy rằng:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án gồm biên bản thỏa ngày 01/8/2016; biên bản gia hạn nợ ngày 27/4/2016 giữa anh Công, chị Hiếu và anh Long, chị Yến, Biên bản làm việc của UBND xã Đông Hà, bản tự khai, lời trình bày của các đƣơng sự tại biên bản hòa giải ngày 14/3/2018 anh Long, chị Yến đều thừa nhận có nợ anh Công, chị Hiếu số tiền mua hàng cỏ cói còn nợ lại là 257.000.000 đồng. Từ ngày 05/5/2014, đồng thời hai bên đều thống nhất và chấp nhận trả lãi với mức lãi 1%/tháng và thỏa thuận đến ngày 01/8/2017 anh Long, chị Yến sẽ trả cho anh Công, chị Hiếu toàn bộ gốc và lãi. Tuy nhiên đến ngày 01/8/2017 anh Long, chị Yến vẫn không có tiền trả cho anh Công, chị Hiếu toàn bộ số tiền gốc và lãi nhƣ thỏa thuận.

Xét việc thỏa thuận của hai bên là hoàn toàn tự nguyện, không bịép buộc, không trái pháp luật vàđạo đức xã hội, anh Long, chị Yến, anh Công chị Hiếu đều là những ngƣờiđủ năng lực trách nhiệm dân sự do vậy nay anh Công, chị Hiếu yêu cầu anh Long, chị Yến phải trả nợ theo thỏa thuậnđã cam kết là có căn cứ chấp nhận. Theo thỏa thuận ngày01/8/2017 anh Long chị Hiếu phải trả toàn bộ cả gốc, lãi nhƣng anh Long, chị Yến không trả đƣợc khoản nợ trên nên anh Long, chị Yến phải tiếp tục trả lãi trên nợ gốc quá hạn 257.000.000đ chƣa trả bằng 150% lãi suất theo thỏa thuận (mức 1%) theo quy định củađiểm b khoản 5 Điều 466 BộLuật dân sự.

Tổng số tiền anh Long, chị Yến phải trả anh Công chị Hiếu là: 399.462.000đ gồm:

- NợGốc = 257.000.000đ.

- Lãi từ05/5/2014 – 01/8/2017 (38 tháng 25 ngày) là: (257.000.000 đồng x 1% x 38)+ (257.000.000đ x 25/30 x1%) = 97.873.000đ

- Lãi từ 01/8/2017 đến 18/7/2017 (11tháng 17 ngày) là: (257.000.000đ x 150% x 11 ) + (257.000.000 x 17/30 x150% ) = 44.589.500đồng

[2.2] Xét yêu cầu của bị đơn về việc bị đơn cho rằng chỉ chấp nhận trả lãi cho nguyên đơn trong thời hạn 01/8/2016 - 01/8/2017 với lãi xuất theo lãi xuất ngân hàng nhà nƣớc mức 0,8%/tháng và tiếp tục trả lãi từ khi tòa án xét xử cho đến khi trả hết nợ còn các gia doạn khác bị đơn không chấp nhận trả nợ .

Bị đơn cho rằng bị đơn không chấp nhận trả lãi cho nguyên đơn giai đoạn từ 05/5/2014 cho đến ngày 01/8/2016 lý do đây là khoản nợ tiền hàng hai bên mua bán cỏ cói với nhau. Tuy nhiên trong đơn xin xác nhận đề ngày 05/5/2014, biên bản thỏa thuận ngày 01/8/2016; và biên bản gia hạn nợ ngày 27/4/2016 các bên đều thống nhất anh Long, chị Yến còn nợ anh Công, chị Hiếu số tiền mua hàng cỏ cói còn nợ lại là 257.000.000 đồng, đồng thời hai bên đều thống nhất và chấp nhận trả lãi với mức lãi 1%/tháng. Nay bị đơn cho rằng việc thỏa thuận và tính lãi suất đồng thời ghi mức lãi suất trong các giấy tờ do chị Yến không hiểu biết và tin lời chị Hiếu nói là không lấy hết tiền lãi nên chị Yến mới ký tên vào trong các văn bản nêu trên là không có căn cứ. Ý kiến phản bác của chị Yến, anh Long về việc không chấp nhận trả lãi cho chị Hiếu anh Công số tiền 257.000.000đ trong thời hạn 01 năm là không có căn cứ chấp nhận

Về án phí: Yêu cầu của chị Hiếu, anh Công đƣợc chấp nhận nên không phải chịu án phí.

Anh Long, chị Yến phải chịu 5 % án phí tƣơng ứng với số tiền phải trảlà :399.462.000đx 5% = 19.973.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 438 BLDS 2005 và các Điều 440; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự”

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Hiếu và anh Nguyễn Trọng Công.

2. Buộc anh Phạm Văn Long sinh năm 1973 cùng vợ là Phạm Thị Yến sinh năm 1974 đều tạm trú tại thôn Nam Đồng Hải, xã Đông Vinh, huyện Đông Hƣng, tỉnh Thái Bình phải trả anh Nguyễn Trọng Công, sinh năm 1962 cùng vợ là Phạm thị Hiếu sinh năm 1967 trú tại thôn Nam Song, xã Đông Hà, huyện Đông Hƣng, tỉnh Thái Bình số tiền nợ gốc là 257.000.000đồng(Hai trăm năm mươi bảy triệu đồng) và số tiền lãi là 142.462.000đồng

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Trọng Công, chị Phạm Thị Hiếu không phải chịu án phí, trả lại chị Hiếu số tiền 9.400.000( chín triệu bốn trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0007534 ngày 29/01/2018 của Chi cục thi hành án dân sự

Anh Phạm Văn Long và chị PhạmThị Yến phải chịu 19.973.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Đƣơng sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đƣơng sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- Đƣơng sự

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- Viện kiểm sát nhân dân Đông Hƣng

- Chi cục thi hànhán dân sự huyệnĐông Hƣng.

- Lƣu hồ sơ vụ án;

Hà Thị Nhung NGÂN HÀNG NHÀ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

NƯỚC

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

******

********

Số: 500/2000/QĐ-

Hà Nội, ngày 05 tháng 12 năm 2000

NHNN1

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG BỐ LÃI SUẤT CƠ BẢN LÀM CƠ SỞ CHO TỔ CHỨC TÍN DỤNG ẤN

ĐỊNH LÃI SUẤT CHO VAY BẰNG ĐỒNG VIỆT NAM ĐỐI VỚI KHÁCH

HÀNG

THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng ngày 12/12/1997; Căn cứ Nghị định số 15/CP ngày 2/3/1993 của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ; Căn cứ ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 322 /VPCP-KTTH ngày 25/7/2000 của Văn phòng Chính phủ về điều hành lãi suất; Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Nay công bố mức lãi suất cơ bản làm cơ sở cho tổ chức tín dụng ấn định lãi suất cho vay bằng Đồng Việt Nam đối với khách hàng là 0,75 %/tháng. Điều 2. 1. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 5/12/2000 và thay thế quy định về mức lãi suất cơ bản tại Điều 1, Quyết định 464/2000/QĐ-NHNN1 ngày 2/11/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc về việc công bố lãi suất cơ bản làm cơ sở cho tổ chức tín dụng ấn định lãi suất cho vay bằng Đồng Việt Nam đối với khách hàng. 2. Thủ trƣởng các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nƣớc, Giám đốc chi nhánh Ngân hàng Nhà nƣớc các tỉnh, thành phố; Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc (Giám đốc) các tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ