vanban.org

Bản án 04/2021/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị L1 đối với bị đơn bà Đỗ Thị L.

Buộc bà Đỗ Thị L phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bà Đỗ Thị L1 số tiền 4.233.260 đồng (bốn triệu hai trăm ba mươi ba nghìn hai trăm sáu mươi đồng). Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Đỗ Thị L1 và Đỗ Thị L tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị L1 đối với bị đơn bà Đỗ Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHI LĂNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2021/DS-ST
Ngày: 20-7-2021
V/v tranh chấp về bồi thường thiệt
hại do sức khỏe bị xâm phạm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Nguyên.

Ông Vi Thành Chung.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Phấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2021/TLST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2021, về tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2021/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 7 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị L1, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn Q, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.

2. Bị đơn: Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn Q, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 3 năm 2021, các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên toà, nguyên đơn bà Đỗ Thị L1 trình bày:

Bà và bà Đỗ Thị L là hai chị em ruột, hai chị em ở cạnh nhà nhau. Nguyên nhân xảy ra sự việc đánh nhau ngày 08-12-2020 xuất phát từ hai năm trước giữa hai chị em bà đã xảy ra mâu thuẫn, bà L có ý định hỏi bà để thuê theo mùa vụ vườn na của chồng bà tại thôn Q, xã C. Nhưng do bà không đồng ý cho bà L thuê vườn na. Năm 2019, thì bà ly hôn với chồng là anh Vi Lê H, bà đã trả lại vườn na cho chồng cũ. Năm 2020, bà L được chồng cũ của bà cho thuê lại vườn na đó, nhưng bà L lại muốn mua lại vườn na này, sau đó bà L không mua được nên bà L đã đặt điều nói xấu về bà, hai chị em tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. Ngày 11-02-2020 bà L có túm tóc, đập mặt bà xuống nền nhà, cầm dao gọt hoa quả đâm chuôi dao bằng gỗ vào người bà; ngày 18-3-2020 bà L cầm gạch ném vào tay bà làm rạn xương ngón tay út. Tất các các lần này, vì là chị em ruột với nhau bà đều bỏ qua, bà không đi viện điều trị gì, chỉ đắp thuốc nam ở nhà, các vết thương đều đã khỏi. Tuy nhiên, đến ngày 08-12-2020 mẹ đẻ bà là bà Hoàng Thị A có nhờ bà gọi người đến mua vườn bưởi của mẹ bà, để mẹ bà bán vườn bưởi, vườn bưởi nằm trước cửa nhà hai chị em bà, hai nhà chung cổng đi lại. Khi bà đang ngồi rửa bưởi cho mẹ, thì bà L ra chỗ bà ngồi gây sự, nói bà mặc cả giá bán bưởi cho mẹ như vậy là rẻ, phải bán giá đắt hơn, mẹ bà không đồng ý ý kiến của bà L, vì giá cả hai bên đã thỏa thuận xong rồi, bà có nói thế mẹ cứ bán đi, bà L cầm chổi cuả nhà bà L quét sân làm bụi hết lên và cứ thế bà L cầm chổi có cán gỗ dài khoảng 1,5m, đường kính khoảng 02cm-05cm đánh vào đầu, khắp người bà, gây thương tích cho bà, sau đó bà phải vào Trung tâm y tế huyện C điều trị nội trú tại khoa Ngoại 02 ngày, từ ngày 15-12-2020 đến sáng ngày 17-12-2020 ra viện, bà được chuẩn đoán đa chấn thường phần mềm, phương pháp điều trị là uống thuốc giảm đau, tỷ lệ 0% thương tích. Ngày hôm sau, ngày 18-12-2020 bà mới lên Trung tâm y tế huyện C để thanh toán chi phí viện phí 02 ngày khám, chữa bệnh tại đây. Trong thời gian điều trị tại Trung tâm y tế huyện C, bà không được Trung tâm y tế huyện C chỉ định lên Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn để khám, chụp cắt lớp vi tính phần đầu. Nhưng sau khi ra viện, bà tự thuê xe ô tô taxi lên Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn để khám, chụp cắt lớp vi tính phần đầu hết 01 ngày 17-12-2020, kết quả chụp cắt lớp vi tính đối với phần đầu của bà, Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn kết luận “không thấy bất thường nội sọ và xương sọ trên phim chụp Scanner”. Sau sự việc bà có đơn đề nghị Công an xã C giải quyết hòa giải không thành. Vì bà L1 không đồng ý bồi thường, không hỏi thăm bà, còn thách thức bà đi kiện, nên bà đã khởi kiện đến Tòa án. Việc bà L trình bày trong quá trình giải quyết vụ án về việc bà đăng các tập tin trên mạng xã hội để chửi, xúc phạm bà L1 là không đúng. Nay bà giữ nguyên yêu cầu bà L phải bồi thường thiệt hại sức khỏe với các khoản sau đây:

1. Tiền viện phí và chi phí khám, chữa bệnh tại Trung tâm y tế huyện C 02 ngày, từ chiều ngày vào viện ngày 15-01-2020 đến ngày ra viện vào 08 giờ sáng ngày 17-12-2020, số tiền 453.260 đồng có hóa đơn.

2. Tiền viện phí và chi phí chụp cắt lớp vi tính phần đầu sọ não; tiền chi phí tiền ăn, uống 01 ngày để bồi dưỡng sức khỏe; chi phí tiền thuê và gửi xe ôtô taxi 01 ngày 17-12-2020 tại Bệnh viện đa khoa Lạng Sơn, số tiền 1.660.7000 đồng.

3. Tiền bồi dưỡng sức khỏe 02 ngày bà điều trị nội trú tại Trung tâm y tế huyện C x 200.000 đồng/ngày, số tiền là 400.000 đồng.

4. Tiền bị mất thu nhập đối với 02 ngày điều trị nội trú tại Trung tâm y tế huyện C, không đi làm được x 200.000 đồng/01 ngày, số tiền 400.000 đồng và tiền bà bị mất thu nhập do bà vẫn bị đau đầu, phải nghỉ lao động để ở nhà giữ sức khỏe 58 ngày (01 tháng 28 ngày) sau ra viện x 200.000 đồng/58ngày, số tiền là 11.600.000 đồng. Tổng yêu cầu bồi thường tiền mất thu nhập tròn 02 tháng (60 ngày) x 200.000 đồng/ngày, số tiền 12.000.000 đồng.

5. Tiền tổn thất về tinh thần bằng 02 tháng lương cơ sở hiện nay của Nhà nước quy định làm căn cứ để tính tiền tổn thất về tinh thần cho bà là 1.490.000 đồng/tháng x 02 tháng lương cơ sở hiện nay, với số tiền 2.980.000 đồng.

6. Tiền mua 03 hộp thuốc bổ não ổn định thần kinh x 500.000 đồng/01 hộp, số tiền 1.500.000 đồng/03 hộp; tiền mật gấu để bôi vết thương số tiền 1.000.000 đồng, bà không cung cấp, giao nộp được hóa đơn, chứng từ, tài liệu gì để chứng minh.

Tổng cộng bà yêu cầu bị đơn bà Đỗ Thị L phải bồi thường 06 khoản thiệt hại đã nêu trên, với tổng số tiền 19.993.960 đồng.

Đối với tiền ăn trong 02 ngày bà điều trị tại Trung tâm y tế huyện C số tiền 200.000 đồng/02 ngày; tiền chi phí tiền gửi xe mô tô 02 ngày đêm trong viện C số tiền 60.000 đồng, do bà đã rút các yêu cầu này nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đối với tiền công người chăm sóc bà trong quá trình điều trị tại Trung tâm y tế huyện C và Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn, do bà tự đi một mình, không có người nào chăm sóc, nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về tiền công người chăm sóc.

Bị đơn bà Đỗ Thị L trình bày: Bà và bà Đỗ Thị L1 là hai chị em ruột, bà là chị gái. Hai chị em bà nhà ở gần nhau. Về yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị L1 yêu cầu bà phải bồi thường 06 khoản thiệt hại, tổng số tiền 19.993.960 đồng, bà không đồng ý. Vì lí do sáng ngày 08-12-2020 bà ở nhà, thấy mẹ bà là bà Hoàng Thị A gánh bưởi để ở sân nhà bà, bà có hỏi mẹ bán bao nhiêu một quả, bà L1 thì đang ở trong nhà riêng của bà L1, bà đã hộ mẹ phân loại bưởi, được 05 quả loại 01, mẹ bà bảo bà gọi ngưởi đến mua bưởi hộ cho mẹ, bà đã gọi cho chị T nhà ở thị trấn C (không biết cụ thể họ và tên, địa chỉ cụ thể ở đâu) để bán bưởi cho chị T, chị T đi ra từ vườn bưởi nhà chị T ở ngay cạnh cổng đi chung của hai chị em bà, bà mặc cả giá hộ mẹ mình 01 quả loại 01 bảo chị T trả mẹ bà giá 12.000 đồng/01 quả, chị T bảo với bà là chị T chỉ mua loại 01 với giá 10.000 đồng/01 quả. Lúc đó bà L1 mới đi từ nhà ra sân nhà bà, bà thấy bà L1 vừa đi vừa chửi bậy, mày mặc cả giá 12.000 đồng hay với giá 10.000 đồng, thì mày mang tiền này về xây nhà tầng được à. Bà biết bà L1 đang chửi lăng mạ bà, bà đi vào sân trong của nhà bà, sau đó bà L1 ngồi rửa bưởi hộ mẹ ở sân ngoài cổng đi chung của hai nhà, bà L1 tiếp tục chửi bậy với lời lẽ xúc phạm bà, do bà tức quá bà đã đi từ sân nhà trong ra sân ngoài cổng chỗ bà L1 đang ngồi rửa bưởi, mặt bà L1 quay hướng vào trong nhà của bà, bà đến đứng trước mặt, đối diện với mặt bà L1, bà đã tát bà L1 01 cái tát vào mồm và có nói lời qua tiếng lại với bà L1, sau đó bà đi vào trong nhà mình để quét hiên nhà, thì bà L1 cầm đá hộc loại to, đường kính bằng nắm đấm tay người trưởng thành, lấy từ vườn bưởi của mẹ bà, bà L1 cứ thế nắm thẳng khoảng 05 đến 06 viên đá nhằm vào người bà đang đứng quyét hiên nhà, do bà tránh được nên đá ném không trúng người, mà trúng 01 viên đá vào gương xe mô tô của bà Hoàng Thị M (là thợ xây bà thuê xây nhà cho bà), xe đang dựng ở sân trong nhà bà, bà bảo bà L1 không ném nữa vỡ hết gương xe mô tô, nhưng bà L1 không dừng lại vẫn tiếp tục ném đá vào nhà bà, vì vậy, bà tiện tay đang cầm 01 cái chổi chít, có cán bằng gỗ cán dài khoảng 1,5m, đường kính cán gỗ khoảng 02cm-05cm, bà đã đánh 01 cái trúng vào mặt trước của cánh tay trái, hay cánh tay phải của bà L1 thì bà không nhớ rõ, ngoài ra không đánh trúng vào vị trí nào trên người của bà L1. Việc bà L1 trình bày bị bà đánh trúng vào đầu và khắp người là không đúng. Sau đó, bà L1 đứng dậy giằng co chổi của bà và túm tóc bà, giằng lấy cái chổi trên tay trái bà đang cầm. Lúc sự việc xảy ra có mặt bà, mẹ bà, chị T người mua bưởi, chị M và anh T là hai người thợ xây nhà cho bà ở đó chứng kiến sự việc. Khi bà L1 ném đá vào nhà bà, thì mọi ngưởi đứng đằng sau bà L1 nên không người nào bị ném trúng. Việc bà tát, đánh bà L1 chỉ để cảnh cáo bà L1 không được chửi bậy và do bà L1 ném đá vào nhà bà gây cho bà ức chế, bà mới đánh. Sau sự việc xảy ra, bà L1 có đơn đề nghị Công an xã C giải quyết vụ việc. Khi Công an xã C giải quyết sự việc giữa hai chi bà, bà đã tự mua, lắp lại cho chị M chiếc gương xe mô tô bị vỡ, vì thế chị M mới không yêu cầu bà L1 bồi thường tiền chiếc gương xe. Kết quả Công an xã C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với bà, phạt số tiền 750.000 đồng, do bà có hành vi tát, đánh bà L1, bà đã nộp phạt xong. Bà khẳng định bà không được túm tóc hay đạp đầu bà L1 xuống nền nhà lần nào, không cầm dao gọt hoa quả đâm chuôi dao bằng gỗ vào người bà L1, việc bà L1 trình bày những lần trước đó bà L1 bị bà gây thương tích, phải đắp thuốc nam ở nhà điều trị là không đúng. Sau sự việc, bà có biết việc bà L1 vào Trung tâm y tế huyện C điều trị 02 ngày từ ngày 15-12-2020 đến ngày 17-12-2020 ra viện, nhưng bà L1 không có tỷ lệ thương tích nào. Bà L1 có lên Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn chụp CT phần đầu hay không, thì bà không biết. Việc bà L1 trình bày nguyên nhân hai chị em xảy ra mâu thuẫn do bà không thuê được vườn na và sau đó không mua lại được vườn na đó của chồng cũ bà L1 là hoàn toàn không đúng nguyên nhân xảy ra sự việc ngày 08-12-2020. Quá trình Công an xã C giải quyết sự việc đánh nhau, thì bà L1 không yêu cầu bà bồi thường thiệt hại về sức khỏe. Ngoài ra, bà L1 còn thường xuyên đăng tin lên Fabook với nội dung nói xấu bà như tài liệu phô tô mà bà đã giao nộp cho Tòa án. Vì các lí do trên, bà không đồng ý bồi thường bất cứ khoản thiệt hại về sưc khỏe nào cho bà Đỗ Thị L1, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo pháp luật.

Tòa án xác minh tại Trung tâm y tế huyện C, Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn, kết quả Trung tâm y tế huyện C, Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn cho biết, việc bà Đỗ Thị L1 lên khám chụp cắt lớp vi tính phần đầu sọ não và các chi phí liên quan đến việc khám, chụp của bà Đỗ Thị L1 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn, không có sự chỉ định của Trung tâm y tế huyện C.

Tòa án xác minh tại Ủy ban nhân dân xã C về mức thu nhập thu nhập trung bình một ngày của một lao động phổ thông tại địa bàn xã C, Ủy ban nhân dân xã C cho biết, hiện nay mức thu nhập trung bình một ngày của một lao động phổ thông tại xã C là 200.000 đồng/01 ngày.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án, yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị L1 về việc yêu cầu bà Đỗ Thị L là người đã có hành vi gây thiệt hại về sức khỏe cho bà phải bồi thường thiệt hại là chính đáng, lỗi xảy ra sự việc là do lỗi của bà Đỗ Thị L đã tát, đánh bà Đỗ Thị L1. Căn cứ Điều 357, 468, 584, 585, 586, 588, 590 Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, buộc bà Đỗ Thị L phải bồi thường cho bà Đỗ Thị L1 tiền chi phí điều trị tại Trung tâm y tế huyện C 02 ngày, tiền bồi dưỡng sức khỏe 02 ngày, tiền bị mất thu nhập đối với 02 ngày điều trị tại Trung tâm y tế huyện C, tiền tổn thất về tinh thần bằng 02 tháng lương cơ sở hiện hành, tổng số tiền 4.233.260 đồng; về án phí đề nghị xem xét theo quy định pháp luật. Đối với yêu cầu về tiền viện phí và chi phí chụp cắt lớp vi tính phần đầu sọ não; tiền chi phí tiền ăn, uống 01 ngày để bồi dưỡng sức khỏe; chi phí tiền thuê, gửi xe ôtô taxi 01 ngày 17-12-2020 tại Bệnh viện đa khoa Lạng Sơn, số tiền 1.660.700 đồng; tiền mất thu nhập vì bà phải nghỉ lao động ở nhà giữ sức khỏe 58 ngày (01 tháng 28 ngày) sau ra viện x 200.000 đồng/58 ngày, số tiền 11.600.000 đồng, tiền bà mua 03 hộp thuốc bổ não ổn định thần kinh x 500.000 đồng/01 hộp, số tiền 1.500.000 đồng/03 hộp; tiền mật gấu để bôi vết thương số tiền 1.000.000 đồng, do bà không cung cấp, giao nộp được hóa đơn, chứng từ, tài liệu gì để chứng minh nên đề nghị không chấp nhận. Đối với một phần yêu cầu khởi kiện về tiền ăn trong 02 ngày bà điều trị tại Trung tâm y tế huyện C số tiền 200.000 đồng; tiền chi phí tiền gửi xe mô tô 02 ngày đêm trong viện C số tiền 60.000 đồng, do bà đã rút yêu cầu khởi kiện nên đề nghị đình chỉ giải quyết. Đối với tiền công người chăm sóc, bà không có người chăm sóc trong quá trình điều trị nên không đề nghị xem xét giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành phiên họp và hoà giải theo quy định của pháp luật nhưng các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về yêu cầu khởi kiện: Xét lời khai nhận của nguyên đơn, bị đơn phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết quả xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ vụ án của Tòa án, thấy rằng xuất phát từ mâu thuẫn trong việc mặc cả giá bán bưởi cho mẹ đẻ của hai bà, dẫn đến sự việc bà Đỗ Thị L đã dùng tay tát vào mặt bà Đỗ Thị L1, dùng cán chổi bằng gỗ của bà Đỗ Thị L đánh vào người bà Đỗ Thị L1, hậu quả bà Đỗ Thị L1 phải vào Trung tâm y tế huyện C khám, điều trị nội trú tại Khoa ngoại thời gian 02 ngày, từ ngày 15 tháng 12 năm 2020 đến 08 giờ sáng ngày 17 tháng 12 năm 2020 ra viện là có thật. Nay bà Đỗ Thị L1 yêu cầu bà Đỗ Thị L bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm với các khoản thiệt hại gồm tiền chi phí điều trị tại Trung tâm y tế huyện C 02 ngày số tiền 453.260 đồng; tiền bồi dưỡng sức khỏe 02 ngày số tiền 400.000 đồng; tiền bị mất thu nhập đối với 02 ngày điều trị tại Trung tâm y tế huyện C số tiền 400.000 đồng; tiền tổn thất về tinh thần bằng 02 tháng lương cơ sở hiện hành do Nhà nước quy định với mức 1.490.000 đồng/tháng số tiền là 2.980.000 đồng là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bà Đỗ Thị L phải bồi thường thiệt hại cho bà Đỗ Thị L1 số tiền là 4.233.260 đồng (bốn triệu hai trăm ba mươi ba nghìn hai trăm sáu mươi đồng).

Đối với phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị L1 yêu cầu bồi thường về tiền viện phí và chi phí chụp cắt lớp vi tính phần đầu sọ não; tiền chi phí tiền ăn, uống 01 ngày để bồi dưỡng sức khỏe; chi phí tiền bà Đỗ Thị L1 thuê, gửi xe ô tô taxi 01 ngày 17-12-2020 đi khám, chụp tại Bệnh viện đa khoa Lạng Sơn số tiền 1.660.700 đồng; về tiền mất thu nhập vì bà phải nghỉ lao động ở nhà giữ sức khỏe 58 ngày (01 tháng 28 ngày) sau ra viện không đi làm được x 200.000 đồng/58 ngày, số tiền 11.600.000 đồng, tiền bà mua 03 hộp thuốc bổ não ổn định thần kinh x 500.000 đồng/01 hộp, số tiền 1.500.000 đồng/03 hộp; tiền mật gấu để bôi vết thương số tiền 1.000.000 đồng, do bà không cung cấp, giao nộp được hóa đơn, chứng từ, tài liệu gì để chứng minh. Mặt khác, theo hồ sơ bệnh án của bà Đỗ Thị L1 tại Trung tâm y tế huyện C và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án cho thấy, sau ra viện bà đã ổn định sức khỏe, không có chỉ định của Trung tâm y tế huyện C về việc bà phải khám, chụp cắt lớp vi tính phần đầu, sọ não tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn và không có chỉ định của Trung tâm y tế huyện C chỉ định bà phải tái khám hay phải nghỉ lao động, mất thu nhập sau ra viện 58 ngày (01 tháng 28 ngày), do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận các yêu cầu này của bà Đỗ Thị L1.

Đối với một phần yêu cầu khởi kiện về tiền ăn và tiền gửi xe trong 02 ngày bà điều trị tại Trung tâm y tế huyện C, số tiền 200.000 đồng/02 ngày; tiền chi phí tiền gửi xe mô tô 02 ngày đêm tại Trung tâm y tế huyện C số tiền 60.000 đồng, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đỗ Thị L1 đã rút yêu cầu nên Hội đồng xét xử cần đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu bà Đỗ Thị L1 đã rút.

Đối với tiền công người chăm sóc bà Đỗ Thị L1 trong quá trình bà điều trị, bà tự xác định bà không có người nào chăm sóc và bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về tiền công người chăm sóc, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung vụ án tại phiên tòa phù hợp với nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn bà Đỗ Thị L1 được chấp nhận một phần nên bị đơn bà Đỗ Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch; bà Đỗ Thị L1 là người khởi kiện yêu cầu bồi thường về sức khỏe nên được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với một phần yêu cầu không được chấp nhận theo quy định.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 588, 590 của Bộ luật dân sự; khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 244, các Điều 266, 271, 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm d khoản 1 Điều 12, khoản 1 và khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị L1 đối với bị đơn bà Đỗ Thị L.

Buộc bà Đỗ Thị L phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bà Đỗ Thị L1 số tiền 4.233.260 đồng (bốn triệu hai trăm ba mươi ba nghìn hai trăm sáu mươi đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Đình chỉ giải quyết về tiền ăn trong 02 ngày bà điều trị tại Trung tâm y tế huyện C số tiền 200.000 đồng và về tiền chi phí gửi xe mô tô 02 ngày đêm trong viện C sô tiền 90.000 đồng, do nguyên đơn bà Đỗ Thị L1 đã rút yêu cầu.

3. Về án phí: Nguyên đơn bà Đỗ Thị L1 được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn bà Đỗ Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để nộp ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ