- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông Lê Nguyễn Hồng Lĩnh, bà Lại Thu Hà với bị đơn ông Lê Nguyễn Như Ý"
- Căn cứ chính? Quyết định số 326/2014/QĐ-UBND Về việc sửa đổi, bổ sung Quy…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2021/DS-PT Ngày 18 – 01 – 2021 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. |
NNHHÂÂNN DDAANNHH
NNƯƯỚỚCC CCỘỘNNGG HHÒÒAA XXÃÃ HHỘỘII CCHHỦỦ NNGGHHĨĨAA VVIIỆỆTT NNAAMM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Hữu Nhân
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Ngọc Bình
Ông Đỗ Mạnh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông hạm hư c Minh hong – Thư T a án nhân dân t nh âm Đồng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy - Kiểm sát viên
Trong các ngày 13 và 18 tháng 01 năm 2021, tại Trụ sở T a án nhân dân t nh âm Đồng xét xử phúc thẩm công hai vụ án thụ l số: 160/2020/TLPT-DS ngày 03 tháng 11 năm 2020 về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số: 27/2020/DS-ST ngày 04/9/2020 của T a án nhân dân thành phố Đ bị háng cáo, háng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 347/2020/QĐ-PT ngày 16/11/2020; Thông báo hoãn phiên t a số: 817/TB-TA ngày 07/12/2020; Thông báo về việc mở phiên t a xét xử phúc thẩm vụ án dân sự số: 08/TB-TA ngày 06/01/2021 của T a án nhân dân t nh âm Đồng giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông ê Nguyễn Hồng , sinh năm: 1981
Bà ại Thu H, sinh năm: 1984
Địa ch : Số 12 Phan Chu T, hường C, thành phố Đ .
- Bị đơn: Ông ê Nguyễn NY, sinh năm: 1984.
Địa ch : Số 280/14 han Đình , hường H, thành phố Đ .
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết H1, sinh năm: 1966
Địa ch : Số 69 Tl, hường B, thành phố Đ .
(Văn bản ủy quyền ngày 24/7/2018)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Văn ph ng Công chứng hạm Thị Thùy T.
Địa ch : Số 53 hạm Ngũ , hường T, thành phố Đ .
Người đại diện theo pháp luật: Bà hạm Thị Thùy T – Chức vụ: Trưởng Văn ph ng
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quang T, sinh năm: 1966
Địa ch : Số 28/3 Trần Hưng Đ, hường M, thành phố Đ .
(Văn bản ủy quyền số 178/GUQ-V CC ngày 09/7/2018)
2/ Ngân hàng TMC Đầu tư và hát triển Việt Nam – Chi nhánh âm Đồng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông hạm Xuân H– Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMC Đầu tư và hát triển Việt Nam – Chi nhánh âm Đồng
Người đại diện theo ủy quyền: Ông hạm Huy H1 – Chức vụ: hó trưởng ph ng KHCN trực thuộc Ngân hàng TMC Đầu tư và hát triển Việt Nam – Chi nhánh âm Đồng
(Văn bản ủy quyền số 1377/UQ-BIDV- Đ ngày 29/11/2018)
3/ Bà Nguyễn Hữu Khánh T, sinh năm: 1987
Địa ch : Số 280/14 han Đình , hường H, thành phố Đ .
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Tuyết H1, sinh năm: 1966.
Địa ch : Số 69 Tl, hường B, thành phố Đ .
(Văn bản ủy quyền ngày 30/9/2019)
4/ Bà Nguyễn Thảo U, sinh năm: 1985
Địa ch : Số 131 Trần Đại N, hường X, thành phố Đ .
- Người kháng cáo: Ông ê Nguyễn NY – Bị đơn.
- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện iểm sát nhân dân thành phố Đ .
(Ông , bà H, ông NY, bà H1 có mặt; ông Tí, ông Hùng, bà U xin xét xử vắng
mặt)
NỘI DUNG V ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn ông Lê Nguyễn Hồng L, bà Lại Thu H thì:
Vào hoảng tháng 7/2017, vợ chồng ông, bà có thỏa thuận nhờ ông ê Nguyễn NY thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất v i diện tích 208m2 tại thửa đất số 186, tờ bản đồ số 9, hường X, thành phố Đ Để thuận tiện cho việc chuyển đổi mục đích quyền sử dụng đất thì vợ chồng ông, bà đã làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/7/2017 được Văn ph ng công chứng hạm Thị Thùy T công chứng số 4484, quyển số 51-TP/CC-SCC/HĐGD Việc đóng phí, thuế để chuyển đổi mục đích sử dụng là do vợ chồng ông, bà tự đóng Vợ chồng ông, bà thống nhất cho vợ chồng ông NY mượn đất 10 năm bằng hình thức cho vợ chồng ông NY dựng tạm nhà để ở hoặc inh doanh cho thuê lại Do ông NY là em ruột nên vợ chồng ông, bà m i tin tưởng để ông NY đứng tên trên giấy tờ đất
Sau hi lập hồ sơ chuyển nhượng ông NY đã được tách thửa và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đất số CH 540687 do Sở Tài nguyên và Môi trường t nh âm Đồng cấp ngày 14/8/2017
Tuy nhiên, việc chuyển mục đích sử dụng đất cho thửa đất trên hông được cơ quan Nhà nư c có thẩm quyền đồng Hiện nay, ông ê Nguyễn NY vẫn chưa đồng sang tên lại cho vợ chồng ông bà, ngược lại ông NY đ i vợ chồng ông, bà phải trả 1 000 000 000 đồng thì m i sang tên lại, và ông NY đã tự tiện sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông, bà là trái v i thỏa thuận
Mặt hác, ông NY luôn ép vợ chồng ông, bà bán lô đất trên trong hi vợ chồng ông, bà hông có nhu cầu bán Vợ chồng ông, bà cũng đã làm đơn gửi đơn lên Cơ quan Công an nhưng cũng hông giải quyết được, ông NY vẫn hông đồng sang tên và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông, bà Theo giấy thỏa thuận thì ông NY đã đưa 50 000 000 đồng tiền cọc cho vợ chồng ông, bà Thực tế, số tiền cọc này là thỏa thuận cấn trừ 50 000 000 đồng thành 61 402.000 đồng tiền công nợ mà ông NY, bà T đang nợ vợ chồng ông, bà chứ hông phải là tiền ông NY đặt cọc trực tiếp cho vợ chồng ông, bà Việc này được thể hiện trong những phiếu xuất ho có chữ của ông NY vì nó liên quan đến yêu cầu hởi iện của vợ chồng ông, bà và số công nợ đã giải quyết xong trư c hi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng và sang tên cho ông NY.
Nay vợ chồng ông bà hởi iện yêu cầu T a án giải quyết hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông, bà và ông ê Nguyễn NY lập ngày 18/7/2017, buộc ông NY phải giao trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông NY ngày 14/8/2017 để ông bà đăng lại biến động theo quy định.
Theo lời trình bày của bị đơn ông Lê Nguyễn NY cũng như lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị Tuyết H1 thì:
Ông NY hông đồng v i yêu cầu hởi iện của nguyên đơn vì vào đầu năm 2017, vợ chồng ông , bà H có nhu cầu bán đất, đồng thời ông NY có nhu cầu mua nên vào ngày 05/4/2017, ông NY đã đặt cọc 50 000 000 đồng để mua lô đất Theo thỏa thuận miệng thì ông NY mua v i giá 750 000 000 đồng. Sau khi đặt cọc và hợp đồng mang tên ông NY thì sẽ trả 500 000 000 đồng ngay sau hi nhận sổ đất, số c n lại 200 000 000 đồng sẽ trả trong ba năm
Tuy nhiên, hi ông NY có tiền trả thì vợ chồng ông , bà H hông đồng nhận vì hông muốn bán đất nữa Sau hi nhà nư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông NY thì vợ chồng ông , bà H lại hông muốn bán nên hông nhận số tiền ông NY thanh toán Việc ông NY nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông NY, là do ông đưa cho ông NY đi làm các thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất, để ông NY xây nhà sinh sống
Hiện nay, ông NY hông chuyển được mục đích sử dụng đất, hông xây dựng và sinh sống trên mảnh đất này Theo như hợp đồng thì giữa ông NY và vợ chồng ông , bà H đã thực hiện đầy đủ, nên hông đồng v i yêu cầu hởi iện của vợ chồng ông , bà H Hợp đồng chuyển nhượng hông có thể hiện có đường đi, vì vậy ông NY yêu cầu vợ chồng ông , bà H tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng ngày 18/7/2017 và hông cản trở quá trình sử dụng thửa đất ông NY đã chuyển nhượng từ vợ chồng ông , bà H.
Đối v i số tiền 50.000.000 đồng công nợ tiền hàng thì ông NY đã trả cho vợ chồng ông , bà H nên hông liên quan đến việc chuyển nhượng đất này
Theo lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng Công chứng Phạm Thị Thùy T thì:
Vào ngày 18/7/2017, Văn ph ng Công chứng hạm Thị Thùy T có chứng nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng là ông bà ê Nguyễn Hồng , ại Thu H và bên nhận chuyển nhượng là ông ê Nguyễn NY Tài sản chuyển nhượng là lô đất hoa màu có diện tích 208m2 thuộc thửa 186, tờ bản đồ số 9 tại hường X, thành phố Đ Giá chuyển nhượng là 50.000.000 đồng Số công chứng 4484, quyển số 51/T -CC-SCC-HĐGD Việc chứng nhận Hợp đồng trên đúng v i quy định của pháp luật
Nay vợ chồng ông , bà H yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên thì Văn ph ng Công chứng Phạm Thị Thùy T hông có iến yêu cầu gì, và đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật
Theo lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam - Chi nhánh Lâm Đồng thì:
Ngân hàng TMC Đầu tư và hát triển Việt Nam Chi nhánh âm Đồng đã tiến hành làm các thủ tục tất toán, bàn giao lại tài sản thế chấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản hác gắn liền v i đất số CH 540687 do Sở Tài nguyên và Môi trường t nh âm Đồng cấp ngày 14/8/2017 cho ông ê Nguyễn NY Không có iến gì, yêu cầu gì, đề nghị T a án giải quyết theo quy định của pháp luật
Theo lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Hữu Khánh T cũng như lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị Tuyết H1 thì:
Năm 2017, vợ chồng bà T, ông NY có dự định mua đất làm nhà ở nên vợ chồng ông có bán cho vợ chồng bà T, ông NY lô đất có diện tích 208m2 thửa 186, tờ bản đồ số 9 tại hường X, thành phố Đ Vì là anh em ruột nên thỏa thuận miệng v i nhau sẽ cho vợ chồng bà T, ông NY thanh toán làm 03 đợt: Đợt 1 đặt cọc 50 000 000 đồng; đợt 2 sau hi có sổ giao tiếp 500 000 000 đồng và số tiền 200 000 000 đồng c n lại sẽ được thanh toán tiếp theo Do vậy, tại thời điểm vợ chồng bà H nhận số tiền 50 000 000 đồng thì cũng đã giao đất cho vợ chồng bà T, ông NY nên vợ chồng bà T, ông NY cũng đã chọn ngày tốt để đặt móng, cúng đất Tại thời điểm giao dịch mua bán do bà Trâm có con nhỏ và đang ở Bảo ộc nên việc đi lại làm giấy tờ thủ tục hó hăn nên bà Trâm có làm văn bản xác định là tài sản riêng của ông NY Tuy nhiên, hiện vợ chồng bà T, ông NY vẫn xác định là tài sản chung của vợ chồng
Sau hi có sổ đất đứng tên ông NY thì vợ chồng vợ chồng bà T, ông NY đi vay ngân hàng 500 000 000 đồng để trả tiền đất cho vợ chồng bà H đúng như thỏa thuận thì bà H hông chịu nhận tiền vì đất đang sốt giá nên vợ chồng bà H đ i lại đất và tố cáo vợ chồng bà T, ông NY ra Công an
Nay bà T hông đồng việc vợ chồng bà H đ i lại đất đã bán cho vợ chồng bà T, ông NY và yêu cầu T a án tiếp tục giao diện tích đất nêu trên cho vợ chồng bà T, ông NY như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH540687 do sở Tài nguyên và Môi trường t nh âm Đồng đã cấp ngày 14/8/2017 cho ông ê Nguyễn NY.
Theo lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thảo U thì:
Bà là người thuê mặt bằng để inh doanh hách sạn tại địa ch 131 Trần Đại N, hường X, thành phố Đ từ ngày 15/7/2017 đến nay Quá trình inh doanh tại đây bà được chủ nhà cho biết một phần của mặt bằng đang được cho thuê thuộc thửa đất số 186, diện tích 208m2 đang bị tranh chấp về quyền chủ sở hữu Hiện tại bà đang sử dụng bình thường theo Hợp đồng thuê hách sạn đã ết và từ đó đến nay cũng chưa thấy bên bị đơn đến và gây ảnh hưởng xấu gì t i việc inh doanh của bà Hơn nữa, bà nhận thấy mọi vấn đề liên quan đến vụ việc bà được biết đã được ông , bà H hai và cung cấp đầy đủ nên xin vắng mặt tại phiên t a xét xử
Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số: 27/2020/DS-ST ngày 04/9/2020 của T a án nhân dân thành phố Đ Xử:
1 Chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện của ông ê Nguyễn Hồng và bà ại Thu H về việc "Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất" đối v i ông ê Nguyễn NY.
1 1 Hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng ông ê Nguyễn Hồng , bà ại Thu H và bên nhận chuyển nhượng ông ê Nguyễn NY được công chứng ngày 18/7/2017 theo số 4484, quyển số 51-TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn ph ng Công chứng hạm Thị Thùy T.
1 2 Buộc ông ê Nguyễn Hồng và bà ại Thu H có trách nhiệm hoàn trả cho ông ê Nguyễn NY số tiền đã nhận cọc là 50 000 000đ (năm mươi triệu đồng).
2 Sở Tài nguyên và Môi trường t nh âm Đồng căn cứ vào Bản án của T a án để giải quyết, thu hồi Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CH 540687 đã cấp cho ông ê Nguyễn NY ngày 14/8/2017 để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông ê Nguyễn Hồng và bà ại Thu H.
Ông ê Nguyễn Hồng , bà ại Thu H có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nư c có thẩm quyền để làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật
Ngoài ra, T a án c n tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền háng cáo cho các bên đương sự
Ngày 18/9/2020, bị đơn ông ê Nguyễn NY có đơn háng cáo yêu cầu T a án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm, yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đất giữa ông NY v i ông , bà H Buộc ông , bà H phải chịu chi phí tố tụng
Ngày 18/9/2020, Viện iểm sát nhân dân thành phố Đ có Quyết định háng nghị phúc thẩm số: 07/QĐKN T-VKS-DS, háng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm theo hư ng sửa một phần bản án sơ thẩm Hủy phần bản án tuyên về việc Sở Tài nguyên và Môi trường t nh âm Đồng căn cứ vào bản án để thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông NY để cấp lại cho ông , bà H.
Tại phiên tòa hôm nay: Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông ê Nguyễn NY là bà Nguyễn Thị Tuyết H1 vẫn giữ nguyên háng cáo
Nguyên đơn ông ê Nguyễn Hồng , bà ại Thu H hông chấp nhận háng cáo và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện iểm sát nhân dân t nh âm Đồng nhận định: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán trong quá trình thụ l và của Hội đồng xét xử tại phiên t a là đúng pháp luật Căn cứ hoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận háng cáo của bị đơn ông ê Nguyễn NY; chấp nhận háng nghị của Viện iểm sát nhân dân thành phố Đ , sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số: 27/2020/DS-ST ngày 04/9/2020 của T a án nhân dân thành phố Đ theo hư ng hông chấp nhận yêu cầu hởi iện của ông , bà H về việc yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông , bà H v i ông NY. Cần công nhận hợp đồng chuyển nhượng này và buộc ông NY phải thanh toán cho ông , bà H số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất c n lại và giá trị tài sản trên đất theo giá thị trường theo ết quả thẩm định giá.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Xuất phát từ việc ngày 18/7/2017, nguyên đơn ông ê Nguyễn Hồng , bà ại Thu H lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 208m2 thuộc thửa 186, tờ bản đồ số 9 tại hường X, thành phố Đ cho bị đơn ông ê Nguyễn NY Do các bên hông thống nhất được v i nhau về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên nên phát sinh tranh chấp Do đó, T a án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” là đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: Xét háng cáo của bị đơn ông ê Nguyễn NY và háng nghị của Viện iểm sát nhân dân thành phố Đ thì thấy rằng:
[2.1] Ngày 18/7/2017, ông ê Nguyễn Hồng , bà ại Thu H lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 208m2 thuộc thửa 186, tờ bản đồ số 9 tại hường X, thành phố Đ (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 412852 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp ngày 27/3/2002) cho ông ê Nguyễn NY. Theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên được Văn ph ng Công chứng hạm Thị Thùy T công chứng số 4484, quyển số 51- TP/CC-SCC/HĐGD ngày 18/7/2017 (B 103, 104, 105) thể hiện giá chuyển nhượng thửa đất trên là 50 000 000 đồng.
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên t a hôm nay, ông NY lại cho rằng giá chuyển nhượng thực tế các bên thỏa thuận là 750 000 000 đồng và đã thanh toán được số tiền 50 000 000 đồng, trong hi đó vợ chồng ông , bà H hông thừa nhận và cho rằng vợ chồng ông bà hông có chuyển nhượng đất trên cho ông NY, mà ch
hợp đồng chuyển nhượng v i mục đích nhờ ông NY thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất được thể hiện theo giấy đề nghị thanh toán ngày 18/8/2017.
[3] Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án tại T a án cấp sơ thẩm thì ngày 31/10/2019, bị đơn ông NY có đơn yêu cầu phản tố, yêu cầu T a án buộc nguyên đơn vợ chồng ông , bà H giao cho ông diện tích đất nhận chuyển nhượng 208m2 thuộc thửa 186, tờ bản đồ số 9 tại hường X, thành phố Đ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản hác gắn liền v i đất số CH 540687 do Sở Tài nguyên và Môi trường t nh âm Đồng cấp cho ông NY ngày 14/8/2017 (BL 231) nhưng T a án cấp sơ thẩm hông ban hành thông báo cho ông NY nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm để thụ l , giải quyết yêu cầu phản tố trên của ông NY là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Hơn nữa, tại Giấy đề nghị thanh toán tiền đề ngày 18/8/2017, thể hiện ông NY đề nghị thanh toán số tiền 130 000 000 đồng (trong đó có 100 000 000 đồng tạm ứng trư c tiền nhận ủy quyền chuyển mục đích sử dụng thửa đất số 186) (BL 218). Trong quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm, bà H trình bày ế toán của Công ty của bà là chị Hoàng Thị Y là người viết giấy đề nghị thanh toán theo yêu cầu của ông NY, để ông NY thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất mà các bên đã thỏa thuận trư c đó. Mặc dù, T a án cấp sơ thẩm đã tiến hành trưng cầu giám định chữ viết nội dung trên, nhưng T a án cấp sơ thẩm cũng chưa tiến hành đối chất giữa các đương sự và làm việc v i chị Y để làm rõ việc chị Y ghi số tiền 100 000 0000 đồng này có phải viết theo yêu cầu của ông NY hay hông và viết v i mục đích gì?.
[4] Mặt hác, tại Giấy đề nghị thanh toán tiền đề ngày 21/6/2017, thể hiện nội dung ông NY “trả lại số tiền 20 000 000 đồng tiền đặt cọc đất” (BL 305). Tại phiên t a phúc thẩm, bà H cũng cho rằng chị Hoàng Thị Y ế toán của công ty bà là người viết giấy đề nghị thanh toán này theo yêu cầu của ông NY, nhưng T a án cấp sơ thẩm cũng hông làm việc v i chị Y để làm rõ số tiền 20 000 000 đồng này là trả tiền đặt cọc đất của thửa đất nào, có liên quan đến thửa đất hiện nay đang tranh chấp hay hông?.
[5] Trong quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn sơ thẩm, ông NY cho rằng vợ chồng ông , bà H chuyển nhượng cho ông diện tích đất 208m2 thuộc thửa 186, tờ bản đồ số 9 tại hường X, thành phố Đ là có thật và hai bên có thỏa thuận về giá cả chuyển nhượng đất, chứ hông phải nhờ ông đứng tên để làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất như yêu cầu hởi iện của ông , bà H; để chứng minh cho lời trình bày của mình thì ông NY có cung cấp 01 USB ghi âm cuộc đàm thoại giữa ông NY v i bà H, nhưng T a án cấp sơ thẩm cũng hông thực hiện việc giám định âm thanh để xác định rõ bản chất nội dung của cuộc đàm thoại mà đã chấp nhận yêu cầu hởi iện của vợ chồng ông , bà H là chưa có cơ sở vững chắc.
[6] Do T a án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, đánh giá chứng cứ vụ án chưa toàn diện và T a án cấp phúc thẩm hông thể hắc phục được những vi phạm trên của T a án cấp sơ thẩm nên cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giao hồ sơ cho T a án cấp sơ thẩm thụ l giải quyết lại vụ án là có căn cứ.
V i phân tích trên, cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giao hồ sơ cho T a án cấp sơ thẩm thụ l giải quyết lại theo thủ tục chung là có căn cứ.
[7] Về chi phí tố tụng: Sẽ được xem xét hi T a án nhân dân thành phố Đ thụ l giải quyết lại vụ án.
[8] Về án phí: Do hủy bản án sơ thẩm nên các đương sự hông phải chịu án phí dân sự phúc thẩm Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xem xét hi T a án cấp sơ thẩm thụ l giải quyết lại vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
- Căn cứ vào hoản 3 Điều 308 - Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số: 326/2014/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.
1- Hủy toàn bộ Bản án Dân sự sơ thẩm số: 27/2020/DS-ST ngày 04/9/2020 của T a án nhân dân thành phố Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn ông ê Nguyễn Hồng , bà ại Thu H v i bị đơn ông ê Nguyễn NY; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn ph ng Công chứng hạm Thị Thùy T, Ngân hàng TMC Đầu tư và hát triển Việt Nam – Chi nhánh âm Đồng, bà Nguyễn Hữu Khánh T, bà Nguyễn Thảo U.
- Giao hồ sơ cho T a án nhân dân thành phố Đ thụ l và giải quyết lại theo quy định.
2- Về án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng: Sẽ được xem xét hi T a án nhân dân thành phố Đ giải quyết lại vụ án.
3- Về án phí phúc thẩm: Hoàn trả cho ê Nguyễn NY số tiền 300 000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0003121 ngày 07/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận - VKSND t nh âm Đồng; - TAND Tp ĐL; - CCTHADS Tp ĐL; - h ng KTNV&THA; - Các đương sự; - ưu AV – HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đặng Ngọc Bình - Đỗ Mạnh Hùng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đặng Ngọc Bình - Đỗ Mạnh Hùng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ) Bùi Hữu Nhân THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Hữu Nhân THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Hữu Nhân |