vanban.org

Bản án 04/2020/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án

Chấp nhận toàn bộ yêu c u khởi kiện của Tổng Công ty Điện lực MN. Buộc Hợp tác xã nông nghiệp MT có trách nhiệm trả cho Tổng Công ty Điện lực MN số tiền điện 65.356.918đồng (Sáu mươi lăm triệu, ba trăm năm mươi sáu ngàn, chín trăm mười tám đồng) lãi 12.222.410đ (Mười hai triệu, Hai trăm hai mươi hai… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Kinh doanh thương mại"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2020/KDTM-ST
Ngày 07-7-2020
V/v tranh chấp kinh doanh thương mại
“Hợp đồng mua bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Ngọc Liêm

.

2. Ông Trần Thanh Sang

Thư ký phiên toà: Ông Lê Phƣớc Sang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới

Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Lộc – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 22/2019/TLST-KDTM ngày 27 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp “Hợp đồng mua bán hàng hóa” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2020/QĐST-KDTM ngày 07 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

Tổng Công ty Điện lực MN- TNHH.

Địa chỉ: Số 72 HBT, phường BN, Q1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Phƣớc Đ – Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh N – Giám đốc Điện lực CM, theo giấy ủy quyền số 6864/UQ-EVN SPC ngày 22/8/2019 (có mặt).

Địa chỉ: 24A THĐ, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Hợp tác xã nông nghiệp MT

Địa chỉ: Ấp MHA, xã MHĐ, huyện CM, tỉnh An Giang.

Ông Trần Phƣớc L, sinh năm 1969 là người đại diện theo pháp luật (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp MT, xã MHĐ, huyện CM, tỉnh An Giang.

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của Tổng Công ty Điện lực MN do ông Nguyễn Thanh N đại diện theo ủy quyền trình bày: Tổng Công ty điện lực MN đã ủy quyền cho ông Nguyễn Thanh N, Giám đốc điện lực CM ký hợp đồng mua bán điện số 89893218000413 ngày 18/8/2018 với Hợp tác xã nông nghiệp MT để sử dụng cho mục đích sản xuất nông nghiệp tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Trong quá trình sử dụng điện, Hợp tác xã nông nghiệp MT đã nợ tiền điện cụ thể như sau:

Hóa đơn tiền điền kỳ I tháng 10/2018 số tiền 40.916.282đ.

Hóa đơn tiền điện kỳ I tháng 11/2018 số tiền 24.440.636đ.

Tổng cộng là 65.356.918đ

Nay Tổng Công ty điện lực MN khởi kiện yêu c u Hợp tác xã Nông nghiệp MT trả số tiền điện còn nợ là 65.356.918 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng mua bán mà hai bên đã ký kết.

Bị đơn Hợp tác xã nông nghiệp MT do ông Tr n Phước L là Chủ tịch Hội đồng quản trị là đại diện theo pháp luật đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án của Tổng Công ty Điện lực MN, nhưng ông không có ý kiến và vắng mặt nên không thể ghi nhận ý kiến và hòa giải được.

Tại phiên tòa, ông Nguyễn Thanh N đại diện theo ủy quyền yêu c u Hợp tác xã nông nghiệp MT trả số tiền điện còn nợ 65.356.918đ; lãi 12.222.410đ, cộng chung 77.579.328đ.

Đại diện viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết:

Chấp nhận yêu c u khởi kiện của Tổng Công ty Điện lực MN.

Buộc Hợp tác xã nông nghiệp MT do ông Tr n Phước L là Chủ tịch Hội đồng quan trị đại diện theo pháp luật trả Tổng Công ty Điện lực MN 65.365.918 đồng và lãi tạm tính đến ngày 07/7/2020 là 12.222.410đ và tính lãi phát sinh kể từ ngày 08/7/2020 cho đến khi Hợp tác xã nông nghiệp MT thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại hợp đồng đã ký kết.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng:

Hợp đồng mua bán điện đã được các bên ký kết có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận. Xét, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015.

Về quan hệ tranh chấp: Tổng Công ty Điện lực MN - TNHH khởi kiện Hợp tác xã nông nghiệp MT do vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng mua bán hàng hóa (điện) số 89893218000413, nên đây là tranh chấp xuất phát từ quan hệ “Hợp đồng mua bán hàng hóa”. Đồng thời, tranh chấp này phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận nên đây là vụ án kinh doanh thương mại theo Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Hợp tác xã nông nghiệp MT do ông Tr n Phước L, Chủ tịch Hội Đồng quản trị đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã nông nghiệp MT đã được triệu tập hợp lệ đến l n thứ 2 nhưng vắng mặt, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Hợp tác xã nông nghiệp MT là có căn cứ.

2. Về nội dung:

Hợp đồng mua bán điện được xác lập giữa Tổng Công ty Điện lực MN và Hợp tác xã nông nghiệp MT trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật, đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.

Căn cứ theo hợp đồng, Hợp tác xã nông nghiệp MT đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền điện cho đến nay. Theo quy định tại Điều 430, 440 Bộ luật dân sự, Điều 50 Luật thương mại, thì Hợp tác xã nông nghiệp MT phải có trách nhiệm trả tiền điện còn nợ và lãi phát sinh theo cam kết của hợp đồng (Bảng tính lãi đính kèm). Do đó, yêu c u của Tổng Công ty Điện lực MN là có cơ sở chấp nhận.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Hợp tác xã nông nghiệp MT phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Tổng Công ty Điện lực MN không phải chịu án phí, hoàn trả tạm ứng án phí cho Tổng Công ty.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điều 30, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 430, Điều 440 Bộ luật dân sự;

Điều 50 Luật Thương mại;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án

Xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu c u khởi kiện của Tổng Công ty Điện lực MN.

Buộc Hợp tác xã nông nghiệp MT có trách nhiệm trả cho Tổng Công ty Điện lực MN số tiền điện 65.356.918đồng (Sáu mươi lăm triệu, ba trăm năm mươi sáu ngàn, chín trăm mười tám đồng) lãi 12.222.410đ (Mười hai triệu, Hai trăm hai mươi hai ngàn, bốn trăm mười đồng), cộng chung 77.579.328đ (Bảy mươi bảy triệu, năm trăm bảy mươi chín ngàn, ba trăm hai mươi tám đồng).

Kể từ ngày 08/7/2020 Hợp tác xã nông nghiệp MT phải tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn theo hợp đồng đã ký kết cho đến khi trả hết nợ vốn cho Tổng Công ty điện lực MN.

Về án phí:

Hợp tác xã nông nghiệp MT phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 3.879.000đ (Ba triệu, tám trăm bảy mươi chín ngàn đồng).

Tổng Công ty Điện lực MN không phải chịu án phí kinh doanh thương mại; hoàn trả cho Tổng Công ty 3.000.000đ (Ba triệu đồng) tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm mà Tổng Công ty đã nộp theo biên lai thu số 0007768 ngày 26/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

Tổng Công ty Điện lực MN được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng Hợp tác xã nông nghiệp MT có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ