- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/HSST. Ngày 18 tháng 02 năm 2020. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thành.
Ông Nguyễn Mạnh Trường.
Thư ký phiên toà: Ông Đào Đức Tài - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2020/TLST- HS ngày 15 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2020, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1980 tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT: Xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Xóm N, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Trình độ văn hóa: 5/12; Con ông: Nguyễn Minh N, sinh năm 1952; Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1954; Gia đình có 3 anh em, bị cáo là thứ 2; Vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1996; Có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2019 đến ngày 02/01/2020, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cho “Bảo lĩnh” (có mặt).
Những người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn R (tên gọi khác là Q), sinh năm 1990; Nơi cư trú: Đội 11, T, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Tiến H, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Xóm N, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 15/12/2019 Nguyễn Văn T mua của một người đàn ông không quen biết 11 hộp pháo với giá 4.400.000 đồng, mục đích để đốt vào dịp Tết nguyên đán. T lấy 06 hộp pháo cho vào 01 bao sắc rắn màu xanh, 04 bốn hộp pháo cho vào 01 túi nilon màu đen, 01 hộp để trong thùng bìa cát tông và để số pháo này dưới gầm bàn bếp trong gian nhà kho, T mượn của chị Nguyễn Thị T1 là em gái T để làm nhà kho và nuôi gà. Khoảng 18 giờ 15 phút, ngày 18/12/2019 T mở cửa phía trước ngôi nhà mượn của chị T1 rồi vào gian nhà phía trong lấy bao sắc rắn và túi nilon đen đựng 10 hộp pháo đem ra sân trước nhà để kiểm tra thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: Thu giữ trước cửa nhà chị T1 10 hộp pháo hoa là loại pháo phụt nổ 36 ống đều có kích thước (14,5 x 14,5 x 14,5)cm, bên ngoài bọc giấy màu đỏ - vàng, có chữ Trung Quốc và 02 sợi dây nhỏ màu xanh nối vào cạnh hộp ký hiệu là M1.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở, nơi làm việc của Nguyễn Văn T CQĐT thu giữ: Tại gầm bàn bếp trong gian nhà kho nuôi gà tại ngôi nhà T mượn của chị Nguyễn Thị T1 liền kề với cửa hàng làm tóc của T tại xóm N, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định 01 thùng bìa cát tông trong có 01 hộp pháo hoa là loại pháo phụt nổ 36 ống đều có kích thước (14,5 x 14,5 x 14,5)cm, bên ngoài bọc giấy màu đỏ - vàng, có chữ Trung Quốc và 02 sợi dây nhỏ màu xanh nối vào cạnh hộp ký hiệu là M2.
Kết luận giám định số: 1190/KTHS ngày 21/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định xác định: Mẫu ký hiệu M1, M2 là pháo, có đặc tính của pháo nổ (chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), tổng khối lượng là 14,913 kg.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại bản cáo trạng số: 01/CT-VKS-KSĐT ngày 14 tháng 01 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nhận xét trên, bị cáo ăn năn hối cải, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo tội danh và điều luật như bản Cáo trạng đã công bố và đề nghị HĐXX T bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại Điều 191 BLHS.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 65BLHS: Xử phạt Nguyễn Văn T mức án từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng (bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2019 đến ngày 02/01/2020).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số pháo đã thu giữ trong quá trình điều tra còn lại sau giám định và 01 bao sắc rắn, 01 túi nilon màu đen, 02 thùng bìa cát tông.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trực Ninh, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đều phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của nhân chứng và các chứng cứ tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn T đã tàng trữ 14,913 kg pháo nổ với mục đích để đốt trong dịp Tết. Hành vi tàng trữ 14,913 kg pháo nổ của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS như cáo trạng VKSND huyện Trực Ninh đã truy tố đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51BLHS. Bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có hai con nhỏ đây là những tình tiết được xem là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; HĐXX xét thấy: Bị cáo Nguyễn Văn T có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Về hình phạt xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động chính, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có hai con nhỏ, xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số pháo đã thu giữ trong quá trình điều tra còn lại sau giám định và các công cụ dùng để cất giấu pháo gồm 01 bao sắc rắn màu xanh, 01 túi nilon màu đen, 02 thùng bìa cát tông.
Đối với người đàn ông bán 11 hộp pháo cho T nhưng T không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đó, CQĐT Công an huyện Trực Ninh đã xác minh nhưng không xác định được là ai để xử lý.
Đối với chị Nguyễn Thị T1 là người cho T mượn nhà để làm kho và chị Nguyễn Thị H1 (vợ T) không biết việc T cất giấu trái phép pháo nổ nên không phạm tội.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS; Xử phạt Nguyễn Văn T 15 (mƣời lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mƣơi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2019 đến ngày 02/01/2020).
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho chính quyền địa phương xã L, huyện T, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại 92 Luật thi hành án hình sự.
2. Vật chứng:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số pháo nổ thu của Nguyễn Văn T còn lại sau giám định được đựng trong thùng cát tông có niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh Nam Định và các công cụ dùng để cất giấu pháo gồm 01 bao sắc rắn màu xanh, 01 túi nilon màu đen, 02 thùng bìa cát tông (toàn bộ vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số: 15/THA ngày 14 tháng 01 năm 2020 giữa CQCSĐT Công an huyện Trực Ninh với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự, thì Bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Trực Ninh; - Công an huyện Trực Ninh; - Chi cục THADS huyện Trực Ninh; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Lưu HS; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Bùi Văn Dũng |