- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo A H và bị cáo A Y phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KON RẪY TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/HS-ST Ngày: 20-3-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KON RẪY - TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Phương Loan.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Ngọc Tần.
2. Bà Y H Liêu.
- Thư ký phiên tòa: Ông A Thống - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tùng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2020, đối với các bị cáo:
+ Bị cáo thứ nhất: A H (Tên gọi khác: Không có ; sinh ngày 06 tháng 10 năm 1990 tại huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum;
Nơi cư trú: Thôn X, xã Đ, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Ba Na; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông A K và bà Y Th; bị cáo đã có vợ và 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: hông; nhân thân tốt; bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn ch n cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày ngày 21/10/2019 đến nay, có m t tại phiên tòa.
+ Bị cáo thứ hai: A Y(Tên gọi khác: Không có); sinh ngày 02 tháng 05 năm 1997 tại huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum; nơi cư trú: Thôn X, xã Đ, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Ba Na; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông A H1 (đã chết) và Y M; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân tốt; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn ch n cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/10/2019 đến nay, có m t tại phiên tòa.
Người bào chữa cho các bị cáo A H và AY: Bà Đ ng Thị Kim Nguyệt – Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tậm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Kon Tum (có m t .
- Bị hại: Ông Vi Văn U, sinh năm 1981. Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum (có m t .
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Y M, sinh năm 1953. Địa chỉ: Thôn 07, xã Đ, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum (có m t .
+ Chị Y Đ, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn 07, xã Đ, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum (có m t .
+ Bà Y P, sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn 07, xã Đ, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum (có m t .
- Những người làm chứng:
+ Bà Y K, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn 07, xã Đ, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum (có m t .
+ Bà Y E (tên gọi khác Y N , sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn 07, xã Đ, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum (vắng m t .
+ Anh A Nh, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn 08, xã Đ, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum (có m t .
-Người tham gia tố tụng khác: Chị Y L N(tên gọi khác: T , sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn 07, xã Đ, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum (có m t .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ ngày 26/08/2019, bị cáo A H và bị cáo A Y ngồi uống rượu với A M1, Y E, A Tr ở nhà A Tr tại thôn 07, xã Đ, huyện Kon Rẫy, tỉnh on Tum. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, A H rủ A Yvề nhà A H để uống rượu tiếp. A H và A Huy, mỗi người điều khiển một xe mô tô đi đến nhà A H. Khi đến đoạn đường đất phía sau nhà A M1, A H nhìn thấy ông Vi Văn X và hỏi A Y“Kia có phải ba Linh (tức là ông Vi Văn X) không?”. A Y trả lời “Phải”. Sau đó, A H và A Y dừng xe, đi bộ đến chỗ ông X, A H nói với A Y“Tao với mày lại đánh ba Linh đi”, A Ygật đầu đồng ý. Lúc này, A H hỏi ông X “Mày có phải ba Linh không?”, ông X trả lời “Phải”. A H hỏi tiếp“Có phải mày có con với Y L N phải không?”. Ông X trả lời “Chuyện cũ đã qua nhắc lại làm gì”. Ngay lúc đó, A Y đến dùng tay giữ đầu xe mô tô và lấy chìa khóa xe mô tô của ông X, nhưng bị ông X giật lại. A Y dùng tay phải đấm vào vùng m t ông X một cái làm A Y và ông X cùng ngã xuống đất nhưng sau đó, cả hai cùng đứng dậy. Lúc này, A H chạy đến đống củi tại gốc cây đa gần nhà A M1, lấy 01 cây gỗ bời lời và bẻ làm đôi. A H đưa cho A Y một nửa cây gỗ bời lời, còn A H cầm một nửa cây gỗ bời lời còn lại, rồi cả hai dùng cây gỗ bời lời đánh ông X. A H cầm khúc cây đánh 02 cái từ trên xuống nh m vào đầu ông X và đầu xe mô tô, ông X đưa tay phải ra đỡ nên bị đánh trúng tay và nghe tay đau nhói. Tiếp đó, A Y cũng cầm khúc cây đánh đến 02 cái, vì tay phải đau nên ông X đưa tay trái ra đỡ và bị đánh trúng phần trên bắp tay trái. Lúc đó, có bà Y K (vợ ông A M1) nhìn thấy và đi gọi ông A Kh (người hàng xóm đến can ngăn. Còn ông X chạy vào bếp nhà ông A M1 để tránh thì A H và A Y đuổi theo. Tại đây, A H đứng ngoài, còn A Y đi vào trong bếp nhà A M1 dùng chân đạp vào lưng ông X. Ông X bỏ chạy ra chỗ để xe mô tô của mình thì A Y tiếp tục lấy mũ bảo hiểm của mình đánh 03 cái vào vùng đầu ông X. Vì ông X cũng đang đội mũ bảo hiểm nên mũ bảo hiểm của A Y bị vỡ; còn A H cũng xông vào dùng tay đánh vào vùng ngực ông X 03 cái, làm ông X ngã xuống đất. Lúc này, ông A Kh đến can ngăn, nhưng A Y vẫn dùng chân dẫm đạp lên người ông X, A Kh tiếp tục can ngăn thì A H, A Y không đánh ông X nữa và nói với ông X “Mày mà báo Công an thì bọn tao đến nhà giết mày”. A H dựng xe mô tô cho ông X điều khiển đi về nhà. Đến ngày 28/8/2019, ông X được A Nh đưa đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Kon Tum.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 124/TgT - TTPY ngày 27/09/2019 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Kon Tum, kết luận thương tích của ông Vi Văn X: Sẹo 1/3 dưới m t trong cẳng tay phải, sẹo ít kích thước lớn: 09%; Gãy kín 1/3 dưới xương quay phải + trật khớp quay trụ dưới đã kết hợp xương, trục thẳng không ngắn chi, chức năng cổ tay bình thường: 08%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định của ông Vi Văn X là 16, 28%, làm tròn 16%
Cơ quan CSĐT, Công an huyện Kon Rẫy đã tạm giữ các đồ vật sau: 01 gậy gỗ đã khô, vỏ màu nâu, kích thước dài 93 cm, đường kính lớn nhất 07cm, đường kính nhỏ nhất 04 cm; 01 gậy gỗ đã khô, vỏ màu nâu, kích thước dài 104 cm, đường kính lớn nhất 04cm, đường kính nhỏ nhất 03 cm và 01 mũ bảo hiểm màu đen đã bị vỡ, hai bên mũ có in chữ VESPA màu trắng, phía sau mũ có tem kiểm định chất lượng CR và tem của công ty cổ phần bảo hiểm Phi Long, có in chữ PIAGGIO màu trắng. Mũ bảo hiểm có 01 đường nứt, vỡ kéo dài 26 cm từ trước ra sau và 01 mảnh vỡ rời khỏi vị trí liên kết kích thước (3,5x9)cm.
Sau khi gây thương tích cho ông Vi Văn X, bị cáo A Y và A H đã bồi thường cho bị hại tổng số tiền 23.000.000 đồng (bị can A H bồi thường 12 triệu đồng và bị can A Y bồi thường 11 triệu đồng).
Tại bản cáo trạng số: 02/CT-VKS ngày 06/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy truy tố các bị cáo A Y và A H về tội: “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ hoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, iểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố 02/CT-VKS ngày 06/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự; Điều 38; các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo A H mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt bị cáo A Y mức án từ 12 đến 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan không có yêu cầu nên không xem xét. Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng xử lý theo quy định của pháp luật. Về án phí: Các bị cáo (A Y và A H) thuộc diện được miễn giảm án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho các bị cáo nhất trí với tội danh và điều luật như Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy đề nghị, đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ là các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; người bị hại đã có yêu cầu xin giảm nhẹ cho các bị cáo theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, hoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đồng thời, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xem xét cho bị cáo A H mức án 18 tháng tù, bị cáo A Y mức án 12 tháng tù.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có khiếu nại gì đối với kết luận giám định pháp y về thương tích số 124/TgT - TTPY ngày 27/09/2019 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh on Tum; xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại - ông Vi Văn X xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại thêm.
Chị Y Đ – vợ bị cáo A H và bà Y M – mẹ đẻ bị cáo A Y không có yêu cầu gì liên quan đến số tiền mà các bị cáo đã bồi thường cho ông Vi Văn X. Chị Y P – vợ ông Vi Văn X không có yêu cầu gì liên quan đến chi phí chữa trị thương tích cho ông X.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Kon Rẫy, tỉnh on Tum, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy - tỉnh Kon Tum, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận các hành vi và quá trình phạm tội như cáo trạng mô tả. M c dù lời khai của các bị cáo, bị hại và những người làm chứng có một số tình tiết khác với cáo trạng nhưng về cơ bản, hành vi phạm tội của các bị cáo phù hợp với tội danh cáo trạng truy tố và phù hợp với kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Do vậy, có đủ căn cứ để kết luận: Chỉ vì bực tức chuyện tình cảm riêng tư của ông X với một người bà con của bị cáo A Y xảy ra nhiều năm trước mà vào khoảng 11 giờ ngày 26/8/2019, bị cáo A H đã rủ bị cáo A Y dùng gậy cây bời lời làm hung khí đánh ông Vi Văn X. Hậu quả gây thương tích gãy tay phải cho ông Vi Văn X với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16%. Như vậy, hành vi của hai bị cáo đã đủ cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ hoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 với các tình tiết định khung “d ng hung khí nguy hi m” và “có tính ch t côn đồ” quy định tại các điểm a, i hoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 06/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum truy tố bị các cáo A H và A Y về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe, thân thể của ông Vi Văn X được pháp luật bảo vệ; gây hậu quả khiến ông Vi Văn X bị tổn thương sức khỏe 16%. Hành vi của các bị cáo thể hiện ý thức coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác; đồng thời, gây hoang mang trong dư luận xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Tại thời điểm phạm tội, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực pháp luật, nhận thức được việc dùng chân, tay, gậy, mũ bảo hiểm đánh vào vào người ông Vi Văn X là trái pháp luật và có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe, tính mạng của ông X nhưng vẫn thực hiện. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo A H và A Y hình phạt tù có thời hạn nh m cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành những công dân có ích cho xã hội, biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khoẻ của người khác.
Về nhân thân, tình tiết tăng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo A Y đã bồi thường cho ông X 11.000.000 đồng và bị cáo A H đã bồi thường cho ông X 12.000.000 đồng . Đồng thời, ông X cũng có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo được quy định tại các điểm b, s Khoản 1, hoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng khi lượng hình để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Ngoài ra, ông A K - cha của bị cáo A H được Ủy ban m t trận tổ quốc Việt Nam tỉnh on Tum, giám đốc Công an tỉnh on Tum, Chủ tịch UBND huyện on ẫy - tỉnh on Tum t ng nhiều giấy khen trong công tác. Do đó, bị cáo A H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ này theo quy định tại hoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
Ngoài ra, Hội đồng xét xử xét thấy: Đây là vụ án cố ý gây thương tích có nhiều bị cáo tham gia, nhưng giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, chuẩn bị trước và phân công vai trò mà hành động bột phát nên là vụ án có đồng phạm giản đơn, không phải phạm tội có tổ chức. Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo A H không chỉ người xúi giục mà còn là người chuẩn bị hung khí và thực hành. Bị cáo A Y chỉ là người thực hành. Như vậy, bị cáo A H có vai trò tích cực hơn bị cáo A Y khi thực hiện hành vi phạm tội, do đó, cần xử bị cáo A H một mức án cao hơn so với bị cáo A Y để thể hiện sự công b ng của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa về việc áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt dưới khung đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: M c dù các bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ ở hoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 nhưng các bị cáo cũng bị 02 tình tiết định khung tăng n ng. Hơn nữa, xét tính chất hành vi phạm tội của 02 bị cáo là hung hãn, côn đồ, thể hiện sự coi thường pháp luật và sức khỏe của người khác nên Hội đồng xét xử thấy áp dụng hình phạt dưới khung đối với 02 bị cáo là không đủ sức răn đe tội phạm nói chung. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị này của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa.
Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tạm giữ: 01 gậy gỗ đã khô, vỏ màu nâu, kích thước dài 93 cm, đường kính lớn nhất là 07 cm, đường kính nhỏ nhất là 04 cm; 01 gậy gỗ đã khô, vỏ màu nâu, kích thước dài 104 cm, đường kính lớn nhất là 04 cm, đường kính nhỏ nhất là 03 cm và 01 mũ bảo hiểm màu đen đã bị vỡ, hai bên mũ có in chữ VESPA màu trắng, phía sau mũ có tem kiểm định chất lượng CR và tem của công ty cổ phần bảo hiểm Phi Long, có in chữ PIAGGIO màu trắng. Đây là vật chứng phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi gây thương tích cho ông Vi Văn X, bị cáo A Y đã bồi thường 11.000.000 đồng cho ông Vi Văn X, đây là số tiền của bà Y M – mẹ đẻ bị cáo A Huy. Tại phiên tòa hôm nay, bà Y M không yêu cầu bị cáo A Y phải trả lại số tiền đã đưa cho A Y để bồi thường cho ông X, nên HĐXX không đề cập.
Bị cáo A H đã bồi thường 12.000.000 đồng cho ông Vi Văn X, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo A H khai đây là số tiền của A H đi làm thuê mà có được. Chị Y Đ – vợ bị cáo A H cũng trình bày đây là tiền riêng của A H nên chị Y Đ không yêu cầu gì đối với số tiền trên. Do đó, HĐXX không xem xét.
Đối với chi phí điều trị cho ông Vi Văn X, chị Y P - vợ của ông X và ông X không có yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo A Y và A H là dân tộc thiểu số sống trong vùng đ c biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo nên Hội đồng xét xử miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyên bố: Bị cáo A H và bị cáo A Y phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ hoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 38; các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo A H 27 hai mươi bảy tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt: Bị cáo A Y 24 hai mươi bốn tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c hoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:
+ 01 gậy gỗ đã khô, vỏ màu nâu, dài 104 cm; đường kính lớn nhất là 04 cm, đường kính nhỏ nhất là 03 cm.
+ 01 mũ bảo hiểm màu đen đã bị vỡ, hai bên mũ có in chữ VESPA màu trắng, phía sau mũ có tem kiểm định chất lượng CR và tem của công ty cổ phần bảo hiểm Phi Long, có in chữ PIAGGIO màu trắng. Mũ bảo hiểm có một đường nứt, vỡ kéo dài từ trước ra sau và 01 mảnh vỡ rời khỏi vị trí liên kết, kích thước 3,5 x 9 cm.
+ 01 cây gậy gỗ đã khô, vỏ màu nâu, có chiều dài 93 cm, đường kính lớn nhất là 07 cm, đường kính nhỏ nhất là 04 cm.
( Theo Biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum với Chi cục thi hành án dân sự huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum ngày 07 tháng 01 năm 2020).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ Khoản 1 Điều 12 và Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí tòa án.
Các bị cáo A H và A Y được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (20/3/2020), các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này để xin xét xử theo trình tự phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh KonTum; - V SND tỉnh on Tum; - VKSND huyện Kon Rẫy; - CA huyện Kon Rẫy; - Chi cụcTHADS huyện Kon Rẫy. - Bị cáo; - Người bào chữa; - UBND nơi đăng ký H TT của bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ VA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Phương Loan |