- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Ph hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Ph tên gọi khác (Bùi Văn Ph) phạm tội " Hủy hoại tài sản"
- Căn cứ chính? Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PH TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/HSST Ngày 29/4/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hoa và ông Đinh Đức Lâm
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Cao Ph, tỉnh Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Ph tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ước - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Ph, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 03/2020/HSST ngày 05 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2020/HSST- QĐ ngày 16 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Bùi Văn Ph tên gọi khác (Bùi Văn Ph), sinh ngày 09/6/1974 tại Tây Ph, Cao Ph, Hòa Bình; Quê quán: Xóm B, xã Tây Ph, huyện Cao Ph, tỉnh Hòa Bình; Nơi cư trú: Xóm M, xã Tu L, huyện Đà B, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Mường; Trình độ văn hóa: 0/12; Quốc tịch: Việt nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Bùi Văn N (đã chết) và bà Đinh Thị B, sinh năm 1950; có vợ là: Dương Thị T, sinh năm 1972 và 02 con, lớn sinh năm 2000; nhỏ sinh năm 2003.
Tiền sự: Không
Tiền án: Có một tiền án.
Ngày 21/4/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Tân L, tỉnh Hòa Bình, xử phạt 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 07/9/2017 Bùi Văn Ph đã chấp hành xong hình phạt; Còn về trách nhiệm dân sự, án phí Bùi Văn Ph chưa chấp hành (Bản án số: 09/2016/HSST ngày 21 tháng 4 năm 2016 của Tòa án nhân dân huyện Tân L, tỉnh Hòa Bình).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2019 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
1. Anh Bùi Văn Ch, sinh ngày 23/12/1971 (anh trai ruột bị cáo)
2. Chị Bùi Thị V, sinh năm 1967 (chị dâu bị cáo)
Cùng cư trú tại: Xóm B, xã Tây Ph, huyện Cao Ph, tỉnh Hòa Bình
Anh Ch, chị V, Vắng mặt có lý do (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn Ph có hộ khẩu thường trú tại Xóm M, xã Tu L, huyện Đà B, tỉnh Hòa Bình nhưng Ph thường xuyên đi lang thang ở nhiều nơi. Chiều ngày 18/8/2019 Ph cùng anh Bùi Văn N ở (Xóm B, xã Tây Ph, huyện Cao Ph) lên lều gia đình anh trai là (Bùi Văn Ch) ở Khu B, thuộc Xóm B, xã Tây Ph, huyện Cao Ph ngủ. Sáng ngày 19/8/2019 Ph ra vườn gia đình anh Ch chặt một buồng chuối tiêu mang về cửa lều để ở đó mục đích mang về bán. Sau đó, Ph và N ngồi ăn sáng, uống rượu. Đến khoảng 8 giờ cùng ngày anh Ch và vợ là Bùi Thị V lên lều thấy Ph chặt buồng chuối còn non nên anh Ch có nói “Sao chú lại chặt chuối của nhà anh”, chị V nói tiếp “Tại sao lại chặt chuối nhà tôi”, Ph nói Chuối bị gẫy cổ nên em xin anh, chị chặt về để bán, chị V nói tiếp: “có phải chuối nhà mày đâu mà mày chặt”, do bực tức câu nói của anh Ch, chị V nên Phục cầm dao xuống sân băm nát buồng chuối, thấy vậy vợ chồng anh Ch bỏ đi làm ruộng.
Khoảng 20 phút sau, Ph biết vợ chồng anh Ch đang ở trên lều nhà ông Bùi Văn B cánh đó khoảng 200m, nên Ph cầm dao đi lên, thấy vợ chồng anh Ch đang ngồi uống nước nên Ph cầm dao chặt xuống sàn nhà gần chỗ anh Ch ngồi và nói “Ai chửi tôi, vợ chồng ông chửi tôi à”. Thấy vậy, ông B bảo chị V chạy đi, Ph đuổi theo nhưng không kịp nên quay lại dùng dao ghì vào gáy anh Ch và nói “Muốn sống hay muốn chết”, anh Ch nói “Chú đừng làm thế, anh em mình cùng chung cha, chung mẹ chú đừng làm thế”, thấy anh Ch nói vậy nên Ph bỏ dao ra, vợ chồng anh Ch đi về. Sau đó, Ph có nói với ông B “ông xuống chứng kiến xem cháu đốt lều thằng Ch”. Nói xong, Ph đi xuống lều của anh Ch dùng bật lửa ga châm đóm đốt vào mái tranh ở gần sát giữa hai lều mái tranh và mái lợp Proximang của gia đình anh Ch. Trong khi đốt lều Ph không thấy ông B xuống nên quay lên gọi ông B xuống xem nhưng ông B không xuống và nói “sao cháu lại làm thế”. Nghe vậy Ph cầm dao đuổi chém ông B. Không đuổi được ông B nên Ph quay lại lều gia đình anh Ch đang cháy, thấy Bùi Văn N đang nằm ngủ trong lều, Ph kéo N ra khỏi lều và bỏ mặc cho lều và một số tài sản khác cháy.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 18/KL- HĐ ngày 16/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cao Phong kết luận, xác định giá trị thực tế của 11 loại tài sản nêu tại Mục a/gồm:
“Mặt hàng 1, Mặt hàng 2”:
+ Giá trị chiếc lều thứ nhất: 23m2 x 613.000đ/m2 = 14.099.000đ
+ Giá trị chiếc lều thứ hai: 25m2 x 766.000đ/m2 = 19.150.000đ
Mặt hàng 3: 05 chiếc xô nhựa loại 20 lít, ngâm đầy măng, số măng có trọng lượng 75kg, giá măng trên thị trường 10.000đ/kg
Tiền xô nhựa: 05 chiếc xô x 45.000đ/chiếc= 225.000đ
Tiền măng 75kg x 10.000đ/kg = 750.000đ
Mặt hàng 4: Máy tuốt lúa: 02 chiếc x 700.000đ/chiếc = 1.400.000đ
Mặt hàng 5: Phi nhựa loại 200 lít: 01 chiếc x 300.000đ= 300.000đ
Mặt hàng 6: Chăn bông loại 1,4 x 1,8m: 06 chiếc x 1.200.000đ/chiếc = 7.200.000đ
Mặt hàng 7: Chăn nhung loại 2 x 2,2m: 02 chiếc x 400.000đ/chiếc= 800.000đ
Mặt hàng 8: Màn tuyn loại 2 x 2,5m: 03 chiếc x 150.000đ/chiếc = 450.000đ
Mặt hàng 9: Xoong nhôm loại 30 lít: 01 chiếc x 250.000đ/chiếc= 250.000đ
Xoong gang loại 3 lít: 02 chiếc x 150.000đ/chiếc= 300.000đ
Xoong nhôm loại 3 lít: 05 chiếc x 60.000đ/chiếc= 300.000đ
Mặt hàng 10: Bát sứ: 30 chiếc x 4.000đ/chiếc= 120.000đ
Mặt hàng 11: Đĩa sứ: 30 chiếc x 10.000đ/chiếc=300.000đ
Tổng cộng 11 mặt hàng: 45.644.000đ (Bốn mươi lăm triệu, sáu trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).
Tại thời điểm ngày 19/8/2019: 11 loại tài sản có các đặc điểm nêu tại yêu cầu định giá tài sản số: 16/YC – ĐGTS ngày 09/9/2019, có tổng trị giá trên thị trường: 45.644.000 VNĐ (Bốn mươi lăm triệu, sáu trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá tài sản nêu trên.
Bản cáo trạng số: 02/CT- VKSCP ngày 03/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Ph, tỉnh Hòa Bình đã truy tố Bùi Văn Ph về tội "Hủy hoại tài sản" theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Bùi Văn Ph đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời phân tích nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn Ph mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Bùi Văn Ch và chị Bùi Thị V không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đề cập giải quyết.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
1.1 Người bị hại anh Bùi Văn Ch và chị Bùi Thị V vắng mặt tại phiên tòa nhưng anh Ch, chị V đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định.
1.2 Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Ph, tỉnh Hòa Bình, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Ph, tỉnh Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung vụ án:
2.1 Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn Ph khai nhận: Giữa bị cáo và anh Bùi Văn Ch là anh em ruột trong gia đình, bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên thỉnh thoảng bị cáo có qua lại nhà anh Ch sống và ở cùng anh Chiều. Khoảng ngày 20 giờ ngày 19/8/2019 bị cáo lên lều nhà anh Ch chặt buồng chuối, mục đích mang về bán lấy tiền đong gạo. Sau khi anh Ch, chị V hỏi về việc chặt chuối. Do bực tức không làm chủ được bản thân nên bị cáo đã dùng bật lửa đốt cháy hai chiếc lều và một số tài sản khác trong lều, gây thiệt hại cho gia đình anh Ch, chị V 45.644.000đ (Bốn mươi lăm triệu sáu trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).
2.2 Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, kết luận định giá tài sản cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Văn Ph phạm tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Ph, tỉnh Hòa Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
2.3 Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết hủy hoại tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm; bị cáo đã có một tiền án về tội chiếm đoạt, chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân lại có hành vi hủy hoại tài sản của người khác gây thiệt hại 45.644.000đ (Bốn mươi lăm triệu sáu trăm bốn mươi bốn nghìn đồng). Vì vậy, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
3.1 Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
3.2 Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qúa trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, tình tiết này được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
3.3. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Đối với hành vi bị cáo dùng dao ghì vào cổ anh Bùi Văn Ch. Xét thấy bị cáo Bùi Văn Phục và anh Bùi Văn Ch là anh em ruột với nhau, từ trước không có mâu thuẫn gì, mục đích của bị cáo cũng không có ý định muốn tước đoạt tính mạng của anh Chiều, sau khi anh Ch nói “Chú đừng làm thế, anh em mình cùng chung cha, chung mẹ chú đừng làm thế” bị cáo đã bỏ dao ra không tiếp tục đe dọa anh Ch nữa nên cơ quan điều tra không xem xét hành vi đe dọa giết người là có căn cứ.
Đối với hành vi bị cáo chặt buồng chuối của gia đình anh Ch, chị V. Hội đồng xét xử nhận thấy theo như bị cáo khai, buồng chuối bị cáo chặt đã bị gẫy, sau khi chặ bị cáo để ở lều và đã bị cháy, anh Ch, chị V cho bị cáo và cũng không có yêu cầu, đề nghị gì về việc này nên không đề cập giải quyết.
. Về trách nhiệm dân sự:
Hành vi hủy hoại tài sản đốt lều và một số tài sản khác trong lều gây thiệt hại cho gia đình anh Ch, chị V, số tiền: 45.644.000đ (Bốn mươi lăm triệu sáu trăm bốn mươi bốn nghìn đồng). Nhưng vì bị cáo Bùi Văn Ph là em trai ruột trong gia đình nên anh Ch, chị V không yêu cầu phải bồi thường về trách nhiệm dân sự. Do đó không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo Bùi Văn Ph phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
2. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Ph tên gọi khác (Bùi Văn Ph) phạm tội " Hủy hoại tài sản"
3. Xử phạt bị cáo Bùi Văn Ph 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2019.
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hòa Bình - TAND tỉnh Hòa Bình - VKSND huyện Cao Ph - Công an huyện Cao Ph - Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình - Bị cáo - Người bị hại - THADS huyện Cao Ph - Lưu hồ sơ vụ án | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Hiền |