- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lương Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÀO CAI Bản án số: 04/2020/HSST Ngày 12- 5 - 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ - TỈNH LÀO CAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thọ.
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Xuân Giang
+ Bà Nguyễn Thị Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2020/TLST-HS, ngày 08/4/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2020/QĐXXST-HS, ngày 24/4/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lƣơng Văn H; Tên gọi khác: không, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1999, tại huyện B, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Thôn L, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lương Văn Ng và bà N ùng Thị L; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con út.
Tiền án: có 01. Ngày 24/10/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xử phạt 18 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 10/02/2020 chấp hành xong, nhưng chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Ngày 23/3/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 12 tháng, kể từ ngày 19/01/2018, nhưng đến ngày 25/5/2018 Hoàng đã bỏ trốn khỏi trung tâm cai nghiện.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 21/02/2020, tạm giam từ ngày 24/02/2020. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai - Có mặt.
Người bị hại: Anh Sái Văn L, năm sinh 1985.
Địa chỉ:Thôn H, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 8 giờ 30 phút, ngày 10/02/2020 Lương Văn H sau khi đã chấp hành xong án phạt tù tại trại giam Quyết Tiến, tỉnh Tuyên Quang. H đón xe khách lên thành phố Hà Giang để thăm bạn nhưng không gặp. Khoảng 19 giờ cùng ngày H ra bến xe khách thành phố Hà Giang để đón xe về nhà, H nhìn thấy ở cổng bến xe có một chiếc xe đạp địa hình, màu đen - đỏ nhãn hiệu XC408, không có người trông coi. H lấy trộm chiếc xe đạp, rồi đạp xe theo quốc lộ về tỉnh Yên Bái, tiếp tục đi theo quốc lộ 70 về Lào Cai. Đến khoảng 11 giờ, ngày 13/02/2020 thì về đến xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai. H đi đến UBND xã với mục đích để nộp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù. Nhưng do có người quen làm ở UBND xã, nên H thấy ngại và không vào nộp giấy. H đi qua cổng UBND xã khoảng 500m thì nhìn thấy trong sân nhà anh Sái Văn L ở bên phải đường thuộc thôn Hà Tiên, xã Cốc Lầu có một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ- nâu-đen, biển kiểm soát 24B2- 610.25 vẫn cắm chìa khóa ở ổ khóa điện. H nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. H quay xe đạp lại và dựng ở ven đường, quan sát thấy không có người trông coi. H đi thẳng đến chỗ để xe mô tô, quay đầu xe ra ngoài đường rồi đề nổ và điều khiển xe đi về hướng thôn Làng Chảng, xã Cốc Lầu. Sau đó, H điều khiển xe mô tô ra xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng thăm người quen, rồi điều khiển xe mô tô đi theo quốc lộ 70 ra thành phố Lào Cai. Ngày 14/02/2020 H mang xe mô tô trộm cắp được đi bán nhưng không ai mua, do xe không có giấy đăng ký. Đến khoảng 18 giờ, ngày 21/02/2020, Hoàng đang đứng nói chuyện với bạn tại khu vực ngã 6, thành phố Lào Cai thì anh Sái Văn L phát hiện thấy H đang ngồi trên chiếc xe mô tô của gia đình bị mất trộm, anh Lợi hô hoán cùng người dân bắt giữ H cùng chiếc xe mô tô trên đưa tới trụ sở Cơ quan Công an để làm việc.Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Hà, Lương Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 02/KL, ngày 19 tháng 02 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Bắc Hà kết luận 01 chiếc xe mô tô đã qua sử dụng, nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ - nâu - đen, biển kiểm soát 24B2-610.25 có giá trị là 32.000.000 đồng (Ba mươi hai triệu đồng).
Tại bản cáo trạng số: 04/CT-VKS-BH, ngày 07/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Lương Văn H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
- Bị cáo Lương Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vị phạm tội như nội dung vụ án đã tóm tắt ở trên. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai trình bày lời luận tội, tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Áp dụng: Điều 173 khoản 1; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lương Văn H từ 24 tháng đến 30 tháng tù giam.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về phần dân sự: Không đề cập giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Không đề cập xử lý.
Người bị hại: Anh Sái Văn L vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và không yêu cầu bồi thường về phần dân sự.
Sau khi xem xét các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
.Về hành vi phạm tội của bị cáo Lương Văn H: Tại phiên toà bị cáo H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo khai: Sau khi đã chấp hành án xong được trở về địa phương. Ngày 13/02/2020 H đi đến UBND xã với mục đích để nộp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù. Nhưng do có người quen làm ở UBND xã, nên H thấy ngại và không vào nộp giấy. Bị cáo đi qua cổng UBND xã khoảng 500m thì nhìn thấy trong sân nhà anh Sái Văn L có một chiếc xe mô tô biển kiểm soát 24B2- 610.25 vẫn cắm chìa khóa ở ổ khóa điện. Bị cáo đã nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sau khi lấy được xe bị cáo đã điều khiển xe đi ra thành phố Lào Cai để tìm nơi tiêu thụ. Nhưng do xe không có giấy tờ, nên không bán được. Đến 21/02/2020 bị cáo đã bị bắt giữ cùng với chiếc xe mô tô. Tổng trị giá tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là: 32.000.000 đồng (Ba mươi hai đồng). Như vậy, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Lương Văn H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến trật tự, trị an trên địa bàn huyện Bắc Hà. Xét về nhân thân của bị cáo tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe, có nhận thức về pháp luật, là người có đủ năng lực và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, không tu trí làm ăn. Lợi dụng sự sơ hở của người bị hại để tài sản ở sân nhà, không có người trông coi. Bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp nhằm chiếm đoạt tài sản phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Bị cáo có nhân thân xấu: Bản án số 92/2018, ngày 24.10.2018 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai đã xử phạt H 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong, nhưng chưa được xóa án tích. Bị cáo không lấy đó làm bài học nhằm khắc phục, sửa chữa nhưng sai lầm của bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Ngoài ra năm 2016 bị cáo còn bị TAND thành phố Lào Cai xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, nhưng khi phạm tội do H chưa đủ 18 tuổi, nên không bị coi là có án tích, bị cáo còn có một tiền sự ngày 23/3/2018 bị TAND thành phố Lào Cai ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa và cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 12 tháng tính từ ngày 19/01/2018, đến ngày 25/5/2018 H đã bỏ trốn khỏi trung tâm. Do vậy, cần phải xét xử nghiêm minh, tuyên mức án tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
.Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản bị cáo trộm cắp đã được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu. Bị cáo có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạnh nhất. Do vậy, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo qui định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo có 01 tiền án đã chấp hành xong, nhưng chưa được xóa án tích. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “ Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
.Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập, không có tài sản gì, nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
.Về trách nhiệm dân sự: Anh Sái Văn L là người bị hại trong vụ án đã nhận lại tài sản do bị cáo H trộm cắp. Nay anh không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
.Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra thu giữ : 01 chiếc xe mô tô đã qua sử dụng, nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ - nâu - đen, biển kiểm soát 24B2-610.25 của gia đình anh Sái Văn L. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã làm rõ được nguồn gốc tài sản. Xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Bắc Hà đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
Ngoài ra cơ quan điều tra còn thu giữ một chiếc xe đạp mà Lương Văn H đã có hành vi trộm cắp ngày 10/02/2020 tại cổng bến xe khách thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang để sử dụng vào việc đi lại. Cơ quan CSĐT Công an huyện Bắc Hà đã có văn bản trao đổi, phối hợp với Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hà Giang điều tra xác minh, nhưng đến nay vẫn chưa xác định được chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã tách ra thành một vụ, việc khác khi nào xác định được chủ sở hữu sẽ điều tra, giải quyết theo quy định của pháp luật. Nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
.Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lương Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Văn H 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 21 tháng 02 năm 2020.
2.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lương Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng ) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo Bản án: Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, vắng mặt người bị hại. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND h. Bắc Hà; - CQCSĐT CA h. Bắc Hà; - CQTHAHS CA h. Bắc Hà; - Sở tư pháp T. Lào Cai; - BPHSNV CA Bắc Hà (để chuyển CA tỉnh); - P.THA& HTTP CA T. Lào Cai; - Trại giam; - Bị cáo; - Người bị hại, - THA HS; - CCTHADS; - Lưu HS; TA; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Thọ |