vanban.org

Bản án 04/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 06/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 04/2020/HS-ST
Ngày: 06-02-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đ ng Thị Di u Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Thành Thật.

Bà Nguyễn Thị Xuân Loan.

- Thư ký phiên t a: Ông Trần Ngọc Ký - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2020/HS-ST ngày 03 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Hồng Dũng (Dũng Lòi), sinh ngày 27/4/1981 tại tỉnh An Giang. Nơi cư trú: số 290/6, đường Hùng Vương, khóm 5, phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; Nghề nghi p: Không; Quốc tịch: Vi t Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Trần Hồng Ngọc, sinh năm 1953 và bà Lê Ngọc Thu (đã chết); Có vợ là Trần Thị Huyền Giao, sinh năm 1979; Có 01 người con sinh năm 2012.

Ngày 02/11/2007 bị Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên áp dụng bi n pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa b nh thời hạn 12 tháng, đã chấp hành xong.

- Tiền án:

+ Ngày 18/3/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 15/8/2016 chấp hành xong hình phạt tù.

+ Ngày 06/01/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 28/5/2017 chấp hành xong hình phạt tù.

- Tiền sự: Ngày 03/9/2015, bị Công an huy n Vĩnh Thạnh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Bị tạm giam ngày 20/10/2019 cho đến nay.

- Bị cáo có m t tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Hoa, sinh năm 1963. (Vắng m t). Nơi cư trú: số 13/9A, khóm Đông Thạnh A, phường Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Người làm chứng: 1. Bà Vũ Thị Lộc, sinh năm 1999. (Vắng m t). 2. Ông Võ Văn Lựa, sinh năm 1984. (Vắng m t).

NỘI UNG V N:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Hồng Dũng đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản nhưng chưa được xóa án tích. Khoảng 15 giờ ngày 23/6/2017, Dũng đến cửa hàng Vi t Tiến tại số 2428, khóm Đông Thạnh A, phường Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên thấy phía trước cửa hàng có dựng 01 xe đạp màu trắng bạc của chị Nguyễn Thị Hoa nhưng không người trông giữ. Lợi dụng sơ hở này, Dũng đến lấy trộm chiếc xe đạp điều khiển đến khu vực gần cầu Sương Trắng, khóm Hưng Thạnh, phường Mỹ Thạnh bán cho người phụ nữ thu mua phế li u (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 150.000 đồng. Đến 17 giờ ngày 23/6/2017, chị Hoa đến Công an phường Mỹ Thạnh trình báo. Đến 18 giờ cùng ngày, Công an phường Mỹ Thạnh mời Dũng làm vi c thì Dũng khai nhận đã thực hi n hành vi lấy trộm xe đạp của chị Hoa và giao nộp 15.000 đồng. Theo Kết luận về vi c xác định giá trị tài sản số 1273/KL-HĐ ngày 10/8/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên, kết luận: 01 xe đạp Nhật, sườn hai ống, màu sơn trắng bạc, đùm sau số, đùm trước thường, trị giá 800.000 đồng. Tại Bản cáo trạng số 05/CT.VKS ngày 31 tháng 12 năm 2019, Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Trần Hồng Dũng về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày nội dung luận tội: Giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo Trần Hồng Dũng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Hồng Dũng từ 09 tháng tù đến 01 năm tù.

Về trách nhi m dân sự: bị hại không yêu cầu bồi thường thi t hại nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật ch ng: đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 15.000 đồng.

Bị cáo Trần Hồng Dũng khai nhận đã thực hi n hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, không tranh luận với nội dung luận tội của đại di n Vi n kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại và người làm ch ng trình bày: Tài sản bị mất trộm là 01 xe đạp Nhật như nội dung vụ án đã nêu. Bị hại không yêu cầu bồi thường thi t hại.

NH N Đ NH CỦA TÒA N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Vi n kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.

M c dù đã được Tòa án tống đạt hợp l giấy tri u tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, bị hại và những người làm ch ng vẫn vắng m t. Tuy nhiên, những người vắng m t đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên vi c vắng m t của họ không gây cản trở cho vi c xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng m t theo quy định của pháp luật.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Trần Hồng Dũng khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng mà đại di n Vi n kiểm sát đã công bố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; lời khai của bị hại, những người làm ch ng và các tài li u ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những căn c trên, đã có đủ cơ sở xác định, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản, thực hi n hành vi lén lút lấy trộm 01 chiếc xe đạp trị giá 800.000 đồng của bà Nguyễn Thị Hoa trong thời gian chưa được xóa án tích, bán được 150.000 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền cơ bản được pháp luật ghi nhận và bảo v , mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác đều bị xử lý nghiêm khắc. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhi m hình sự, nhận th c rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị cáo đã bị xét xử và chấp hành án về tội trộm cắp tài sản theo các bản án số 32/2016/HSST ngày 18/3/2016 và số 01/2017/HSST ngày 06/01/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, lẽ ra sau khi chấp hành xong hình phạt bị cáo phải nhận th c được vi c làm sai trái của bản thân mà cố gắng rèn luy n, tu dưỡng phẩm chất, đạo đ c, tích cực lao động tự tạo thu nhập nuôi sống bản thân trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, nhưng ngược lại bị cáo tiếp tục thực hi n hành vi phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích, điều này thể hi n ý th c xem thường pháp luật của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần có hình phạt nghiêm khắc, tương x ng với m c độ, hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. [3]. Về tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo t rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Bị cáo không có tình tiết tăng n ng trách nhi m hình sự. [4]. Về xử lý vật ch ng: đối với số tiền 15.000 đồng đây là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. [5]. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [6]. Về trách nhi m dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét, giải quyết. [7]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Tuyên bố bị cáo Trần Hồng Dũng (Dũng Lòi) phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Căn c điểm b khoản 1 Điều 173, Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Căn c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về m c thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án; Xử phạt: Bị cáo Trần Hồng Dũng 09 (Chín) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2019.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 15.000 đồng (Mười lăm nghìn đồng) theo Giấy nộp tiền ngày 03/7/2017 tại Kho bạc Nhà nước – Phòng giao dịch Kho bạc Nhà nước An Giang.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ