- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc Th - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CR TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/HS-ST Ngày: 18/02/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CR, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Nhị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Đặng Ngọc Hương
2/ Bà Bùi Thị Thu Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Hữu Xuân Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố CR.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Khải - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố CR, Hội đồng xét xử mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 09/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Quốc T (Dẹo), sinh năm: 1979 tại Nha Trang, Khánh Hòa; Hộ khẩu thường trú: 146/12 PS, phường PS, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H (chết) và bà: Ngô Thị L, sinh năm: 1960; Vợ: Nguyễn Thị Huyền Tr, sinh năm: 1982; Con: 01 con, sinh năm: 2000; Tiền án: Ngày 16/6/2006, bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/10/2014, chưa chấp hành việc đóng án phí; Nhân thân: Ngày 10/11/2004, bị Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/8/2005. Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố CR ngày 13/11/2019. (Có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Hương D, sinh năm: 1984
Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường C, thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa)
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
1. Ông Đặng Văn B, sinh năm 1980
Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường C, thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa)
2. Bà Trần Thị Kim H, sinh năm: 1970
Nơi cư trú: Tổ dân phố HD, phường CPB, thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Quốc T là người nghiện ma túy, có 01 tiền án và chưa được xóa án tích. Do cần tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 14 giờ ngày 10/7/2019, Nguyễn Quốc T đi đến khu vực chợ CP, thuộc tổ dân phố H, phường CPB, thành phố CR, tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Tại đây, T thấy xe mô tô, biển số 79N4-9770 của bà Nguyễn Thị Hương D, đang dựng trên vỉa hè, chìa khóa vẫn để ở ổ khóa và không có người trông coi. T đi đến ngồi lên xe, nổ máy và điều khiển xe bỏ đi thì bị phát hiện.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 76/HĐĐG ngày 12/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố CR kết luận: Xe mô tô màu xanh, biển số 79N4-9770, số khung: CG023UM002007, số máy: FMG-015134, trị giá 2.100.000 (Hai triệu một trăm nghìn) đồng.
Sau khi phạm tội, Nguyễn Quốc T bỏ trốn đến ngày 13/11/2019 thì bị bắt truy nã.
Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSCR-HS ngày 31/12/2019, Viện kiểm sát nhân dân truy tố bị cáo Nguyễn Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự
Về vật chứng vụ án: 01 xe mô tô màu xanh, biển số 79N4-9770, số khung: CG023UM002007, số máy: FMG-015134, đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Hương D.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Quốc T. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T từ 12 đến 15 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại bà Nguyễn Thị Hương D đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ và thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong hồ sơ và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Nguyễn Quốc T là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, có 01 tiền án và chưa được xóa án tích. Khoảng 14 giờ ngày 10/7/2019, tại khu vực chợ CP, thuộc tổ dân phố H, phường CPB, thành phố CR, Nguyễn Quốc T đã có hành vi trộm cắp xe mô tô biển số 79N4-9770, trị giá 2.100.000 (Hai triệu một trăm nghìn) đồng của bà Nguyễn Thị Hương D. Như vậy hành vi trên của bị cáo Nguyễn Quốc T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Quốc T đã bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/8/2005 nhưng chưa đóng tiền án phí. Tuy nhiên, bị cáo được coi là đã xóa án tích theo quy định tại Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về thi hành BLHS năm 2015 của Quốc Hội. Vì vậy bản cáo trạng số: 06/CT-VKSCR-HS ngày 31/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo về các điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân, là một trong những khách thể được Luật hình sự bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người đã bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, thuộc trường hợp tái phạm. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ tội phạm bị cáo thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, trong hồ sơ và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản là 01 xe mô tô màu xanh, biển số 79N4-9770, không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 01 (Một) năm tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt (ngày 13/11/2019).
2. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Nguyễn Thị Hương D đã nhận lại tài sản là 01 xe mô tô màu xanh, biển số 79N4-9770, không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xét.
3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc niêm yết bản án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa. - VKSND TP. CR. - Chi cục THADS TP. CR. - Công an TP. CR. - Bị cáo. - Đương sự. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Ngô Nhị Hồng |