vanban.org

Bản án 04/2020/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 17/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn O phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn O tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo (ngày 24- 6- 2019). Buộc bị cáo Lê Văn O nộp lại tiền thu lợi bất chính là 2.415.000 đ ng (Hai triệu bốn trăm m ời lăm ngàn đ ng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn On phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn O phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2020/HS- ST
Ngày: 17- 02- 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.

Thẩm phán:

Ông Lê Thành Tôn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Quang Trí.

Ông Nguyễn Văn Tệt.

Ông Lê Văn Thung.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phan Thị Kim Loan- Th ký T a án nhân dân t nh Đ ng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Quốc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở T a án nhân dân t nh Đ ng Tháp mở phiên t a xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2019/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 08/2020/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Văn O, sinh năm 1983 tại t nh Vĩnh Long; c trú (HKTT): Ấp Tân H, xã Tân Công S, huyện Tam N, t nh Đ ng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn B, sinh năm 1955 và bà Lê Thị L, sinh năm 1955; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ: Ngày 24- 6- 2019; tạm giam: Ngày 27- 6- 2019. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Đ ng Tháp (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo:

Luật s Nguyễn Tấn Tới- Chi nhánh Công ty Luật TNHH Luật Hoàng và Cộng sự thuộc Đoàn Luật s t nh Đ ng Tháp (có mặt).

Địa ch : Đ ờng Nguyễn Trãi, khóm Mỹ Tây, thị trấn Mỹ Thọ, huyện Cao Lãnh, t nh Đ ng Tháp.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Võ Văn Đ, sinh năm 1975 (vắng mặt).

Địa ch : Ấp Tân H, xã Tân P, huyện Thanh B, t nh Đ ng Tháp.

2. Lê Thị Thúy N sinh năm 1989 (có mặt).

Địa ch : Ấp Tân H, xã Tân Công S, huyện Tam N, t nh Đ ng Tháp.

- Người làm ch ng:

1. Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Địa ch : Ấp Phú Y, xã An L2, huyện Tam N, t nh Đ ng Tháp.

2. Trần Chí H1, sinh năm 1997 (vắng mặt).

Địa ch : Ấp An T, xã An B, thị xã H ng N, t nh Đ ng Tháp.

- Người i t s vi c: Lê Thị L, sinh năm 1955 (có mặt).

Địa ch : Ấp Tân H, xã Tân Công S, huyện Tam N, t nh Đ ng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án đ ợc tóm t t nh sau:

Khoảng 23 giờ 15 phút ngày 23- 6- 2019, Ph ng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an t nh Đ ng Tháp kết hợp cùng Công an xã An L2, huyện Tam N và Công an huyện Tam N, t nh Đ ng Tháp b t quả tang Lê Văn O đang điều khiển xe g n máy mang biển kiểm soát 66N1- 361.xx có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy (ma túy tổng hợp) tại khu vực bến xe Hùng C thuộc ấp Phú Y, xã An L2, huyện Tam N. Qua kiểm tra phát hiện ba lô bằng vải màu đỏ- đen- tr ng để phía tr ớc xe, bên trong ba lô có 01 túi nhựa màu tr ng chứa tổng cộng 20.795 viên nén, màu xanh nghi là ma túy tổng hợp nên tiến hành thu giữ (đ ợc niêm phong trong thùng giấy màu tr ng xanh, có in nhãn hiệu Lavie, có đóng dấu tr n đỏ của Công an xã An L2, huyện Tam N, bên trong có 01 túi nhựa màu tr ng loại n p kẹp hàn kín (ký hiệu số 1) và 7 bịch ni lon hàn kín (ký hiệu từ số 2 đến số 8).

Kiểm tra thu giữ trên ng ời O g m: Trong túi quần bên trái, phía tr ớc phát hiện 01 điện thoại di động hiệu Nokia- X1, màu đỏ đen, bên trong có g n 02 thẻ sim, g m sim 1 số 0971247257, sim 2 số 03375597xx và 01 điện thoại di động hiệu Bontel, màu vàng đen, bên trong có g n 02 thẻ sim g m sim 1 số 03878837xx, sim 2 không kiểm tra đ ợc số (sim Campuchia). Trong túi quần bên phải, phía sau có 01 cái bóp da màu đen bên trong có 585.000 đ ng; 01 Giấy Chứng minh nhân dân mang tên Lê Văn O và 01 xe g n máy nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu đỏ đen mang biển kiểm soát 66N1- 361.xx có số khung 1710JY241xxx, số máy E3T6E352xxx.

Bản kết luận giám định số 501/KL- KTHS ngày 25- 6- 2019 của Ph ng kỹ thuật hình sự kết luận: Các viên nén màu xanh, hình trái tim, viên nén bị bể thành dạng bột và viên nén bị bể không rõ hình chứa trong túi nhựa màu tr ng ghi ký hiệu số 01 và các viên nén màu xanh, hình tr n chứa trong 07 bịch ni lon ghi ký hiệu từ số 2 đến số 8. Tổng cộng 20.795 viên nén đ ợc niêm phong trong cùng thùng giấy gửi giám định đều là chất ma túy, có tổng khối l ợng 7.228,082 gam loại MDMA (th ờng gọi là thuốc l c) thuộc số thứ tự 27 Danh mục I Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15- 5- 2018 của Chính phủ.

Tr ớc Cơ quan điều tra, Lê Văn O thừa nhận mình có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy thuê cho một ng ời lạ từ cửa khẩu Quốc tế Dinh B2, huyện Tân Hg, t nh Đ ng Tháp về Việt Nam r i đem giao hàng ở Thành phố H Chí Minh. Ngoài lần bị b t quả tang nêu trên tr ớc đó O c n khai nhận đã vận chuyển trót lọt 02 lần, hành vi phạm tội của O cụ thể nh sau:

Lê Văn O, sinh năm 1983 ngụ ấp Tân H, xã Tân Công S, huyện Tam N, t nh Đ ng Tháp. Hàng ngày O th ờng đến quán n ớc giải khát xxx do Võ Văn Đ, sinh năm 1975 ngụ ấp Tân H, xã Tân P, huyện Thanh B1, t nh Đ ng Tháp làm chủ quán, từ đó O và Đ quen biết nhau. Khoảng tháng 6 năm 2019, O đến quán n ớc xxx ng i nói chuyện chơi với Đ, Đ thấy On bị th ơng ở tay và hiện không có việc làm, không có tiền tiêu xài, ậm nhớ lại tr ớc đây có ng ời nam lạ mặt cần ng ời chở đ thuê và có cho số điện thoại di động 0344952xxx nên Đ mới nói với O: “Có người cần chở đồ thuê mày có chở không?”, O nói: “Có” nên Đ đọc số điện thoại di động 0344952xxxx của ng ời này để O tự liên lạc thỏa thuận việc chở thuê.

Sau đó, O dùng số điện thoại di động của mình gọi vào số điện thoại di động 0344952xxx và hỏi: “Anh cần chở đồ gì?”, thì có ng ời nam nói giọng miền Tây trả lời: “Chở trà và rượu trốn thu . Khi nào có đồ tao gọi cho mày”, đ ng thời thỏa thuận mỗi chuyến trả cho O 5.000.000 đ ng tiền công, Ođ ng ý.

Lần th 1: Khoảng 20 giờ ngày 18- 6- 2019, ng ời nam không rõ nhân thân gọi cho O và h ớng dẫn O chạy xe đi nhận hàng. O đ ng ý, lấy xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS màu đỏ đen, mang biển số: 66N1- 361.xx chạy đi. Xe này của chị Lê Thị Thúy N, sinh năm 1989 là em ruột O (do N đi làm thuê không có ở nhà). Khi O chạy đến ngã ba An L2 huyện Tam N, t nh Đ ng Tháp thì gặp ng ời nam không rõ nhân thân đều khiển xe Wave màu xanh chạy đến kêu O chạy theo. Khi chạy đến đoạn đ ờng v ng cách Cửa khẩu Quốc tế Dinh B2 thuộc ấp Dinh B2, xã Tân Hội C, huyện Tân H, t nh Đ ng Tháp khoảng từ 300m đến 500m, thì ng ời này kêu O dừng xe lại và kêu O đ a máy điện thoại di động để tháo gỡ sim số 0337559xxx đ a cho O cất giữ r i lấy 02 thẻ sim số thuê bao mới trong đó sim 01 có số 0387883xxx và sim 02 có số Campuchia không rõ số thuê bao, g n vào máy điện thoại di động r i đ a lại cho On và nói: “Sim của mày để cho người nhà mày gọi, còn sim 01 số: 0387883xxx và sim 02 số Campuchia một lát có người gọi đi n thoại lại sẽ giao đồ cho mày chở”. Nói xong, ng ời này điều khiển xe chạy về h ớng thị xã H ng N.

O đứng đợi khoảng 30 phút thì có 01 ng ời nam khác (không rõ nhân thân) có số điện thoại di động 0882342xxxx gọi vào máy điện thoại di động sim 02 O đang sử dụng hỏi: “Tới chưa?”, O trả lời: “Tới rồi đang đợi nè”. Khoảng 15 phút sau, O nhìn thấy 01 ng ời nam điều khiển xe g n máy hiệu Dream, mang biển số Campuchia, đội nón bảo hiểm, đeo khẩu trang kín mặt đi từ h ớng Campuchia qua h ớng Cửa khẩu Quốc tế Dinh B2 đến gặp và giao cho O 01 túi bằng vải loại 04 quay màu đỏ nặng khoảng 03kg đến 04 kg và đ a cho O 1.000.000 đ ng nói “Tiền này đi xe, số còn lại khi nào xong đưa sau”. Nói xong ng ời này điều khiển xe chạy quay về h ớng Cửa khẩu Quốc tế Dinh B2 và về h ớng Campuchia.

O nhận tiền và túi vải để phía tr ớc baga xe r i điều khiển xe chạy về h ớng thị xã H ng N thì ng ời nam gặp lần tr ớc có số điện thoại di động 0344952xxx gọi vào máy điện thoại di động O đang sử dụng sim 1 số 0387883xxx hỏi O: “Lấy đồ chưa?”, O trả lời: “Lấy rồi”, r i sau đó ng ời này kêu O chạy gửi xe vào nhà giữ xe và lấy túi vải đi đến bến xe Hùng C chi nhánh tại ấp Phú Y, xã An L2, huyện Tam N mua vé xe đi bến xe Miền Tây, Thành phố H Chí Minh r i mang túi vải để d ới gốc cây to ngay Cổng số 01 thì sẽ có ng ời đến nhận túi vải. O thực hiện đúng nh h ớng dẫn và mua vé xe về lại Bến xe Hùng C ở An L2, huyện Tam N.

Lần th 2: Khoảng 20 giờ ngày 20- 6- 2019 cũng nh lần thứ nhất, O chạy xe mô tô biển kiểm soát 66N1- 361.xx đến địa điểm cũ, gần Cửa khẩu Quốc tế Dinh B2, nhận 01 gói đ dán kín trong giấy dầu (hình dáng giống nh cây đ ờng cát), nặng khoảng 03kg đến 04 kg và 1.000.000 đ ng tiền phí vận chuyển đến bến xe Miền T2, Thành phố H Chí Minh. Nh lần tr ớc, O vận chuyển gói đ đến bến xe Miền T2 r i mang gói đ để d ới gốc cây to ở Cổng số 01 và mua vé xe về lại Bến xe Hùng C ở An L2, huyện Tam N.

Lần th a: Khoảng 20 giờ ngày 22- 6- 2019, cũng nh 02 lần tr ớc, O chạy xe mô tô biển số 66N1- 361.xx đến địa điểm cũ, gần Cửa khẩu Quốc tế Dinh B2, nhận 01 ba lô đ bằng vải màu đỏ- đen- tr ng và 1.000.000 đ ng. Ng ời giao hàng nói: “Không được mở a lô ra vì trong a lô có trà và có rượu n u mở ra mất dấu thì người ta không lấy túi đồ còn tiền này đi xe, số còn lại khi nào xong đưa sau”.

Nghe theo lời ch dẫn, O mang túi ba lô đ đến Bến xe Hùng C mua vé đi Bến xe Miền T2, Thành phố H Chí Minh. Khi đi đến đ ờng Nguyễn Văn L3, Thành phố H Chí Minh, O điện thoại lại cho ng ời nam có số điện thoại di động 0344952xxx, thì ng ời nam này nói: “Lộn đồ rồi, mày mang a lô về lại n xe Hùng C sẽ có người lấy để trả lại cho người ta”.

Lúc này khoảng 12 giờ ngày 23- 6- 2019, O mang túi ba lô đ về đến Bến xe Hùng C chi nhánh tại ấp Phú Y, xã An L2, huyện Tam N, t nh Đ ng Tháp, O điện thoại lại cho ng ời nam này kêu đến nhận lại túi ba lô đ thì ng ời này nói: “Mầy tìm quán cà phê võng vào nằm đợi sẽ có người ra lấy” nên O vào quán cà phê võng cặp Quốc lộ 30 cách ngã 3 An L2 khoảng 4km - 5 km nằm đợi. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, O vẫn không thấy ai đến nhận túi ba lô đ nên O mang túi ba lô đ định chạy về nhà, nh ng khi đến đoạn đ ờng v ng trên Quốc lộ 30, gần bến đ Chợ V thuộc xã An H, huyện Tam N, O dừng xe lại mở túi ba lô ra xem thì phát hiện bên trong túi ba lô đ có nhiều bịch ny lon chứa nhiều viên nén màu xanh, nghi là ma túy, nên O đem giấu túi ba lô đ vào bụi chuối ven đ ờng, r i tiếp tục điều khiển xe chạy về nhà. Khi gần đến thị trấn Tràm C, huyện Tam N thì ng ời có số điện thoại di động 0344952xxx điện thoại gọi lại kêu O đem túi ba lô mang đến Bến xe Hùng C sẽ có ng ời đến nhận và hứa sẽ trả đủ số tiền vận chuyển c n lại. O điều khiển xe quay lại bụi chuối lấy túi ba lô đ r i chạy vào bến xe Hùng C thì bị b t quả tang nh đã nêu trên.

Tổng cộng bị cáo Lê Văn O đã 03 lần vận chuyển trái phép chất ma túy từ khu vực gần Cửa khẩu Quốc tế Dinh B2, huyện Tân H, t nh Đ ng Tháp về Thành phố H Chí Minh với số tiền công thỏa thuận là 15.000.000 đ ng, nh ng đến ngày bị b t thì O mới nhận mỗi lần 1.000.000 đ ng thu lợi bất chính, tổng cộng O nhận 03 lần là 3.000.000 đ ng, số tiền này O tiêu xài cá nhân, c n lại 585.000 đ ng.

Đối với các các số thuê bao 03878839xxx và sim có số Campuchia do đối t ợng thuê đ a cho O sử dụng đã bị khóa nên không kiểm tra đ ợc.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu đỏ đen, mang Biển số 66N1- 361.xxx, số khung 1710JY241xxx, số máy E3T6E3529xx là của chị Lê Thị Thúy N, sinh năm 1989, ngụ ấp Tân H, xã Tân Công S, huyện Tam N, t nh Đ ng Tháp. Chị N đi làm thuê không có ở nhà, O tự ý lấy xe đi chị N không hay biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an t nh Đ ng Tháp đã trao ả lại cho chủ sở hữu.

01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Lê Văn O và 01cái bóp da màu đen là tài sản cá nhân của O không liên quan đến việc phạm tội, trả lại cho bị cáo O.

Tại Cáo trạng số 22/CT- VKS ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân t nh Đ ng Tháp đã truy tố bị cáo Lê Văn O về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự.

Qua xét xử công khai tại phiên t a, bị cáo Lê Văn O thừa nhận vì muốn có nhiều tiền để tiêu xài nên bị cáo đã vận chuyển trái phép chất ma túy tổng cộng 03 lần từ khu vực gần Cửa khẩu Quốc tế Dinh B2, xã Tân Hộ C1, huyện Tân H, t nh Đ ng Tháp về Thành phố H Chí Minh. Lần bị b t quả tang có tổng khối l ợng ma túy là 7.228,082 gam loại MDMA (th ờng gọi là thuốc l c). Bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố hành vi của bị cáo là đúng, không oan, sai.

Tại phiên t a, đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Đ ng Tháp giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Văn O về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự. Kiểm sát viên nhận định rằng bị cáo Lê Văn O 03 lần vận chuyển trái phép chất ma túy nên bị cáo thuộc tr ờng hợp phạm tội hai lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuy nhiên, trong vụ án này bị cáo Lê Văn O đã tự khai ra 02 lần vận chuyển trái phép chất ma túy ngoài lần bị b t quả tang và trong vụ án này bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo ch a có tiền án, tiền sự, bị cáo thuộc hộ cận nghèo, hoàn cảnh gia đình khó khăn, gia đình bị cáo có công với cách mạng nên đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại các điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đ ng xét xử xử phạt bị cáo Lê Văn O mức án tù chung thân.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đ ng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thuộc hộ cận nghèo, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn.

Đề nghị buộc bị cáo Lê Văn O nộp lại tiền thu lợi bất chính là 2.415.000 đ ng (3.000.000 đ ng – 585.000 đ ng).

Về vật chứng: Kiểm sát viên đề nghị Hội đ ng xét xử xử lý nh phần quyết định của Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, Luật s bào chữa cho bị cáo phát biểu: Về thủ tục tố tụng của vụ án từ giai đoạn b t quả tang cho đến khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, Luật s cho rằng hành vi của bị cáo Lê Văn O là có tội, thống nhất với Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Luật s xét thấy các tình tiết giảm nhẹ mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng là đầy đủ, có cơ sở, tuy nhiên Luật s đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét thêm về nhân thân bị cáo ch a có tiền án, tiền sự, gia đình bị cáo nghèo khó, hoàn cảnh khó khăn. Từ đó, Luật s đề nghị Hội đ ng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đến mức thấp nhất.

Tại phần tranh luận, bị cáo Lê Văn O không tham gia tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đ ng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình và làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên t a, Hội đ ng xét xử nhận định nh sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đ ng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an t nh Đ ng Tháp, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân t nh Đ ng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên t a sơ thẩm những ng ời tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Xét thấy, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét thấy, vào khoảng 23 giờ 15 phút ngày 23- 6- 2019 tại khu vực Bến xe Hùng C thuộc ấp Phú Y, xã An L2, huyện Tam N, t nh Đ ng Tháp, bị cáo Lê Văn O bị b t quả tang về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy, số ma túy bị b t quả tang có tổng cộng 20.795 viên nén, qua kết quả giám định thì số ma túy trên có khối l ợng 7.228,082 gam, loại MDMA (th ờng gọi là thuốc l c), đây là chất ma túy thuộc số thứ tự 27 Danh mục I của Nghị định số 71/2018/NĐ-CP ngày 15- 5- 2018 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Số ma túy này có ngu n gốc từ Campuchia, bị cáo Lê Văn O vận chuyển thuê cho 01 ng ời lạ từ Cửa khẩu quốc tế Dinh B2, huyện Tân H, t nh Đ ng Tháp mang đi giao tại Thành phố H Chí Minh. Ngoài lần bị b t quả tang, bị cáo Lê Văn O c n thừa nhận đã vận chuyển ma túy trót lọt 02 lần vào các ngày 18- 6- 2019 và 20- 6- 2019.

[3] Tại lần b t quả tang, bị cáo Lê Văn O biết rõ hàng hóa mà bị cáo nhận vận chuyển là ma túy nh ng bị cáo vẫn nhận vận chuyển, điều đó thể hiện bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy của bị cáo Lê Văn O là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà n ớc về kiểm soát, quản lý, sử dụng các chất ma túy và tiền chất, hành vi của bị cáo c n tiếp tay, góp phần tạo điều kiện để ma túy từ n ớc ngoài tràn vào Việt Nam, làm tăng các hoạt động mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép các chất ma túy trong n ớc, từ đó góp phần làm tăng tội phạm về ma túy và các loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác, gia tăng các tệ nạn xã hội làm ảnh h ởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, cản trở kinh tế phát triển. Khi thực hiện hành vi, bị cáo Lê Văn O là ng ời tr ởng thành, không bị hạn chế về năng lực hành vi, bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng để nhận thức đ ợc việc mình làm và bị cáo phải chịu trách nhiệm về những sai phạm của mình.

[4] Từ những phân tích nêu trên, Hội đ ng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Lê Văn O đủ cơ sở cấu thành tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự. Hành vi này cần phải đ ợc xử lý nghiêm minh để giữ gìn sự tôn nghiêm của pháp luật, giữ gìn sự bình yên của Nhân dân.

[5] Về nhân thân: Bị cáo Lê Văn O là ng ời có nhân thân tốt, bản thân bị cáo ch a có tiền án, tiền sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên đ ợc quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Lê Văn O đã tự thú nhận các lần phạm tội tr ớc đây, trong vụ án này bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, xét thấy gia đình bị cáo có ng ời tham gia cách mạng: Ông nội bị cáo là ông Lê Văn M đ ợc Nhà n ớc tặng Huân ch ơng kháng chiến hạng nhất, bà nội của bị cáo là bà Bùi Thị X đ ợc Nhà n ớc tặng Huy ch ơng kháng chiến hạng nhì, bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên bị cáo c n đ ợc h ởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên t a, mẹ bị cáo là bà Lê Thị Luận cho rằng bị cáo thuộc hộ cận nghèo nh ng ch có lời khai của bà L, không có tài liệu chứng minh nên ch a đủ căn cứ xem xét.

[8] Về hình phạt bổ sung: Hội đ ng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập cũng không ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Đối với hai ng ời nam thuê bị cáo Lê Văn O vận chuyển ma túy trái phép từ Cửa khẩu Quốc tế Dinh B2 về Thành phố H Chí Minh và ng ời nhận ma túy ở bến xe Miền T2 do bị cáo không biết lai lịch cụ thể nên ch a làm việc đ ợc, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

[10] Đối với chủ thuê bao các số 0344952xxx, 0387883xxx, 0882342xxx Cơ quan điều tra Công an t nh Đ ng Tháp đã ra lệnh thu giữ điện tín và ủy thác cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hà Nội thực hiện, khi nào có kết quả cụ thể sẽ xử lý sau.

[11] Đối với anh Võ Văn Đ có cho bị cáo O số điện thoại di động của ng ời lạ để O liên hệ vận chuyển ma túy vì nghĩ là họ cần thuê vận chuyển hàng hóa bình th ờng. Anh Đ không biết việc O nhận vận chuyển ma túy, nên không có căn cứ xử lý.

[12] Đối với chiếc xe mô tô 66N1- 361.xxx do Lê Văn O sử dụng vận chuyển ma túy, chiếc xe này là của chị Lê Thị Thúy N mua trả góp của Cửa hàng xe Tân T3 ở thị trấn Tràm C, huyện Tam N, chị N cho bị cáo m ợn sử dụng để đi làm và chạy xe ôm, việc bị cáo sử dụng xe vận chuyển ma túy chị N không biết nên cơ quan Công an đã trả lại xe cho chị N là phù hợp với quy định của pháp luật.

[13] Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

Chất ma túy c n lại sau giám định có tổng khối l ợng là 7.201,578kg g m:

+ Mẫu viên nén màu xanh, hình trái tim, viên nén bị bể thành dạng bột, viên nén bị bể không rõ hình chứa trong túi nhựa màu tr ng ghi ký hiệu số 1 và mẫu viên nén màu xanh, hình tr n chứa trong 07 bịch ny lon ghi ký hiệu từ 2 đến 8 c n lại sau giám định có tổng khối l ợng 6.986,801g. Đ ợc niêm phong trong cùng thùng giấy màu tr ng xanh có in nhãn hiệu “Lavie” ghi “niêm phong số: 504/, ngày 24/6/2019”, có đóng hình dấu đỏ tr n của “Ph ng kỹ thuật hình sự Công an t nh Đ ng Tháp”, có in hình dấu vân tay ngón trỏ trái và trỏ phải bằng mực màu đỏ của Lê Văn O và các chữ ký ghi họ tên Tr ơng Minh V1, Lê Minh V2, Trần Thị Ý N1, Nguyễn Thống N2, Trần Hữu N3 và Lê Văn O.

+ Mẫu viên nén màu xanh, hình trái tim, viên nén bị bể thành dạng bột, viên nén bị bể không rõ hình và mẫu viên nén màu xanh, hình tr n trích mẫu để giám định c n lại sau khi tiến hành giám định có tổng trọng l ợng 214,777g. Đ ợc niêm phong trong cùng phong bì ghi “niêm phong số: 501/KTHS, ngày 25/6/2019”, có đóng hình dấu đỏ tr n của “Ph ng kỹ thuật hình sự Công an t nh Đ ng Tháp” và các chữ ký ghi họ tên Tr ơng Minh V1, Lê Minh V2 và Nguyễn Thống N2.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà n ớc:

+ Tiền Việt Nam 585.800 đ ng (Năm trăm tám m ơi lăm ngàn tám trăm đ ng).

+ 01 ba lô bằng vải, màu đen- đỏ- tr ng, có ghi hiệu DAIDIANIU.

+ 01 điện thoại di động hiệu Nokia- X1, màu đỏ đen, bên trong có g n 02 thẻ sim, g m sim 1 số 0971247xxx, sim 2 số 03375597xx.

+ 01 điện thoại di động hiệu Bontel, màu vàng- đen, bên trong có g n 2 thẻ sim g m 1 sim số 0387883, sim 2 không kiểm tra đ ợc số (sim Campuchia).

- L u h sơ vụ án 01 USB ghi lại hình ảnh diễn biến hỏi cung bị cáo Lê Văn On trong quá trình điều tra.

[14] Về án phí: Bị cáo Lê Văn O phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên, Luật s tại phiên t a là có căn cứ để xem xét quyết định hình phạt bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm b khoản 4 Điều 250; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn O phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn O tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo (ngày 24- 6- 2019).

Buộc bị cáo Lê Văn O nộp lại tiền thu lợi bất chính là 2.415.000 đ ng (Hai triệu bốn trăm m ời lăm ngàn đ ng).

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

Chất ma túy c n lại sau giám định có tổng khối l ợng là 7.201,578kg g m:

+ Mẫu viên nén màu xanh, hình trái tim, viên nén bị bể thành dạng bột, viên nén bị bể không rõ hình chứa trong túi nhựa màu tr ng ghi ký hiệu số 1 và mẫu viên nén màu xanh, hình tr n chứa trong 07 bịch ny lon ghi ký hiệu từ 2 đến 8 c n lại sau giám định có tổng khối l ợng 6.986,801g. Đ ợc niêm phong trong cùng thùng giấy màu tr ng xanh có in nhãn hiệu “Lavie” ghi “niêm phong số: 504/, ngày 24/6/2019”, có đóng hình dấu đỏ tr n của “Ph ng kỹ thuật hình sự Công an t nh Đ ng Tháp”, có in hình dấu vân tay ngón trỏ trái và trỏ phải bằng mực màu đỏ của Lê Văn O và các chữ ký ghi họ tên Tr ơng Minh V1, Lê Minh V2, Trần Thị Ý N1, Nguyễn Thống N2, Trần Hữu N3 và Lê Văn O.

+ Mẫu viên nén màu xanh, hình trái tim, viên nén bị bể thành dạng bột, viên nén bị bể không rõ hình và mẫu viên nén màu xanh, hình tr n trích mẫu để giám định c n lại sau khi tiến hành giám định có tổng trọng l ợng 214,777g. Đ ợc niêm phong trong cùng phong bì ghi “niêm phong số: 501/KTHS, ngày 25/6/2019”, có đóng hình dấu đỏ tr n của “Ph ng kỹ thuật hình sự Công an t nh Đ ng Tháp” và các chữ ký ghi họ tên Tr ơng Minh V1, Lê Minh V2 và Nguyễn Thống N2.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà n ớc:

+ Tiền Việt Nam 585.800 đ ng (Năm trăm tám m ơi lăm ngàn tám trăm đ ng).

+ 01 ba lô bằng vải, màu đen- đỏ- tr ng, có ghi hiệu DAIDIANIU.

+ 01 điện thoại di động hiệu Nokia- X1, màu đỏ đen, bên trong có g n 02 thẻ sim, g m sim 1 số 0971247xxx, sim 2 số 0337559xxx.

+ 01 điện thoại di động hiệu Bontel, màu vàng- đen, bên trong có g n 2 thẻ sim g m 1 sim số 0387883792, sim 2 không kiểm tra đ ợc số (sim Campuchia).

- L u h sơ vụ án 01 USB ghi lại hình ảnh diễn biến hỏi cung bị cáo Lê Văn O trong quá trình điều tra.

(Hi n các vật ch ng nêu trên do Cục Thi hành án dân s tỉnh Đồng Tháp đang quản lý theo iên ản giao nhận vật ch ng ngày 29- 11- 2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp và Cục Thi hành án dân s tỉnh Đồng Tháp).

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Văn O phải nộp 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và ng ời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án này lên Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố H Chí Minh trong thời hạn 15 ngày (M ời lăm ngày) kể từ ngày tuyên án (17- 02- 2020).

Trường hợp ản án, quy t định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân s thì người được thi hành án dân s , người phải thi hành án dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguy n thi hành án được th c hi n theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân s , thời hi u thi hành án được th c hi n theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân s .

Cỡ chữ