vanban.org

Bản án 04/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau Tuyên án 08/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh V 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gia thử thách 01 năm, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Anh V cho Uỷ ban nhân dân xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2020/HS-ST
Ngày: 08-01-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Võ Minh Luân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Xuân Minh.

2. Ông Duyên Văn Hiền.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Tuyết Ngân – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dần - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 01 năm 2020 tại Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2019/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Anh V, sinh ngày 16/02/2003; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: ấp M, xã K, huyện T, tỉnh C . ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trường S, sinh năm 1975; và bà Võ Thị N; vợ: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị khởi tố ngày 31 tháng 10 năm 2019 và cho tại ngoại cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay.

Bị hại: Ông Lê Anh X, sinh năm 1989 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo:

Ông Nguyễn Trường S, sinh năm 1975 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp 12, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau

Bà Võ Thị N, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Người bào chữa cho bị báo: Ông Võ Giang N - Trợ giúp viên pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ, ngày 02 tháng 10 năm 2019 Nguyễn Anh V, ở ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau, trên đường đi chơi về đến ngang nhà anh Lê Văn X ở ấp Mũi Tràm C, xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. V phát hiện nhà anh X không khóa cửa. V nảy sinh ý định vào nhà anh X lấy trộm xe. V mở cửa đi vào nhà phát hiện có chiếc xe hiệu HONDA loại WINNER màu đỏ đen, biển kiểm soát 69N1-38324 của anh X đang đậu trong nhà, trên kệ tủ ti vi có chìa khóa, Vi lấy chìa khóa gắn vào xe rồi lén dẫn xe ra khỏi nhà anh X về hướng cống Ba tỉnh khoảng 50m, Vi điều khiển xe chạy về nhà bà Nguyễn Thị H, là bà ngoại của V ở Mũi Tràm B, xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. V đậu xe ngoài sân V đi vào nhà, bà H phát hiện hỏi V xe đâu có, V nói xe mượn của người bạn và đi vào nhà lấy nón bảo hiểm để đi lên Tây Ninh chơi, bà H nghi V lấy trộm xe của người khác, bà H giữ chìa khóa lại không cho V đi và điện báo công an đến lập biên bản.

Vật chứng thu giữ: 01 chiếc xe hiệu HONDA loại WINNER màu đỏ đen, biển kiểm soát 69N1-38324. Ngày 30 tháng 10 năm 2019, Cơ quan điều tra đã trao trả xe cho bị hại.

Kết luận định gia số: 55 ngày 11 tháng 10 năm 2019 của Hội đồng định giá UBND huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, kết luận chiếc xe hiệu HONDA loại WINNER màu đỏ đen, biển kiểm soát 69N1-38324 trị giá 31.901.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 115/CT-VKS ngày 22 tháng 11 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh V theo khoaûn 1 Điều 173 Boä luaät hình sự veà toäi “Trộm cắp tài sản”.

Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo không tranh luận về tội danh chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của bị hại thể hiện tại hồ sơ: Tài sản bị chiếm đoạt đã nhận lại, không yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa ý kiến của ông Võ Giang Nam là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Anh V trình bày: Thống nhất cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Anh V về tội danh, về hình phạt đề nghị xem xét áp dụng cho bị cáo được cải tạo không giam giữ. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; gia đình có công với cách mạng theo quy định tại điểm h, s, i khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Anh V về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 101; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh V từ 06 tháng đến 01 năm tù, cho hưỡng án treo, thời gian thử thách 01 năm đến 02 năm. Về trách nhiệm dân sự bị hại không yêu cầu nên đề nghị không xem xét. Về xử lý vật chứng, chiếc xe hiệu HONDA loại WINNER màu đỏ đen, biển kiểm soát 69N1-38324 bị cáo chiếm đoạt của bị hại trong quá trình điều tra đã trao trả lại cho bị hại, nên đề nghị không xem xét.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an nhân dân huyện Trần Văn Thời, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai bị hại và các chứng cứ có lại hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ, ngày 02 tháng 10 năm 2019, bị cáo Nguyễn Anh V, lén lút đột nhập vào nhà của anh Lê Văn Xuyên, ở ấp Mũi Tràm C, xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, lấy trộm của anh X 01 chiếc xe hiệu HONDA loại WINNER màu đỏ đen, biển kiểm soát 69N1-38324, trị giá 31.901.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Anh V đã xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của anh Lê Văn Xuyên, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo không bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, bị cáo đủ năng lực trách nhiệm hình sự, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi mà bị cáo gây ra. Từ những phân tích trên, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh V theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ pháp luật, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Anh V là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại. Bị cáo biết trộm cắp tài sản là hành vi vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì bản tính tham lam, thích hưởng thụ nên bị cáo đã bất chấp pháp luật để phạm tội. Xuất phát từ sự ghen tuông với bạn của bị cáo, bị cáo muốn có phương tiện để đi tìm bạn của bị cáo, nên bị cáo nảy sinh ý định tìm xe để lấy trộm và bị cáo đã thực hiện hành vi lấy trộm xe của anh X. Hành vi của bị cáo không chỉ vi phạm pháp luật hình sự mà còn gây mất an ninh trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang cho người dân tại địa phương. Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy, bị cáo Nguyễn Anh V có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ xem xét mức hình phạt và loại hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để bị cáo có điều kiện cải tạo, sửa đổi thành người tốt có ích cho xã hội. Đồng thời góp phần ngăn ngừa các hình vi tương tự xảy ra trong cộng đồng dân cự. Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Anh V về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 101; điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Anh V từ 06 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm đến 02 năm là có căn cứ, đúng với quy định của pháp luật. Vì vậy cần chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời về loại hình phạt và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; theo quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt bị hại đã nhận lại, bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã trao trả chiếc xe hiệu HONDA loại WINNER màu đỏ đen, biển kiểm soát 69N1-38324 cho bị hại. Xét thấy việc trao trả xe cho bị hại là phù hợp nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Anh V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 101; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh V 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gia thử thách 01 năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Anh V cho Uỷ ban nhân dân xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Anh V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo ông S có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo bà N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ