vanban.org

Bản án 04/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 05/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Hồ Văn H: 09 (chín) tháng tù Thời gian chấp hành hình phạt tù đ ợc tính từ ngày bị bắt tạm giữ 20/02/2020 Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Bộ luật tố tụng hình sự Quá trình điều tra; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHƯỚC SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số: 04/2020/HS-ST
Ngày 05-3-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đức Toàn

Ông Nguyễn Thanh Vinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thành- Th

T a án nhân dân huy n Ph c n, t nh Quảng Nam

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Vũ Quang Mẫn- Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n Ph c n, t nh Quảng Nam xét xử s thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2020/HS-ST ngày 14 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXX T-HS ngày 24 tháng 02 năm 2020 đối v i bị cáo:

Hồ Văn H; sinh ngày 28/12/1999; tại huy n P, t nh Q; N i c trú: thôn 3, xã N, huy n P, t nh Q; nghề nghi p: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Gié-Triêng; gi i tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Vi t Nam; con ông: Hồ Văn D (chết) và bà: Hồ Thị N (SN: 1975); có vợ Hồ Thị L (SN: 1999), hông đăng ký kết hôn và có 02 con, l n sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 20/02/2020, tạm giam ngày 23/02/2020, hi n đang bị tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo:

Ông L ng Đình Nam- Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà n c t nh Quảng Nam, có mặt tại phiên t a

- Bị hại:

La Thị C, sinh năm: 1964; N i c trú: thôn 3, xã N, huy n P, t nh Q, có mặt tại phiên tòa.

Văn Thị Thu T, sinh năm: 1998; N i c trú: thôn 3, xã Ph c Năng, huy n Ph c n, t nh Quảng Nam, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

Hồ Thị L, sinh năm: 1999; N i c trú: thôn 3, xã N, huy n P, t nh Q, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:

Vào đêm 13/7/2019 rạng sáng ngày 14/7/2019, Hồ Văn H đã trèo qua hàng rào l i B40 vào nhà bếp của bà La Thị C (thôn 3, xã N, huy n P, t nh Q). au đó, H đi lên gian nhà trên đến chổ quầy bán thức ăn, H bê thùng nhựa màu xanh ra h ng nhà bếp, đến gần cửa nhà v sinh rồi mở nắp thùng lấy hết tiền bên trong, sau đó theo đ ờng cũ ra ngoài rồi đi về nhà. H đếm số tiền trộm cắp đ ợc là 489.000đồng (gồm các tờ tiền 1 000đ, 2 000đ, 5 000đ, 10 000đ, 20 000đ) rồi đem cất giấu. Sáng hôm sau, bà C thức dậy phát hi n trong nhà bị trộm cắp nên làm đ n trình báo C quan điều tra Công an huy n Ph c n để giải quyết.

Làm vi c v i C quan điều tra, H đã hai nhận hành vi trộm cắp của mình và đã giao nộp số tiền 489 000đồng.

Quá trình điều tra c n xác định đ ợc: Tr a ngày 22/5/2019, lợi dụng nhà bà C vắng ng ời, Hồ Văn H nảy sinh định đột nhập vào nhà để trộm cắp tài sản, H vào nhà bà C nh lần đột nhập tối ngày 13/7/2019. H đi từ nhà bếp lên nhà trên mở tủ kính lấy một túi xách nữ, màu đen có dây đeo màu vàng của Văn Thị Thu T, con gái bà C (bên trong có một khâu 05 phân vàng, T cất giữ dùm cho bà C, tiền và một số giấy tờ tùy thân của T) và một đi n thoại di động Samsung J6, màu xám của bà La Thị C. H tiếp tục đi đến quầy bán thức ăn mở thùng nhựa màu xanh lấy một chiếc ví nữ màu đen bên trong có ba ngăn chứa tiền, H lấy hết số tiền ở ba ngăn rồi để ví lại trên bục bê tông lát gạch men au đó, H cầm theo túi xách của Văn Thị Thu T đi đến cửa tôn phía sau nhà bếp mở cửa đi ra ngoài, H lục trong túi xách này lấy hai tờ tiền m nh giá 500 000đồng của T rồi để chung v i xấp tiền đã lấy trong ba ngăn của ví nữ màu đen, tiếp tục H lấy hộp nhựa màu hồng có 05 phân vàng rồi vứt bỏ túi xách chứa giấy tờ vào bụi cỏ d i bờ suối bên trái nhà bếp rồi đi về Trên đ ờng về nhà, H mở hộp nhựa màu hồng lấy 05 phân vàng và vứt hộp nhựa xuống suối. Khi về đến nhà H đếm số tiền trộm đ ợc là 19 000 000đồng gồm các loại m nh giá 500 000đ, 200 000đ, 100 000đ, 50 000đ, 20 000đ (H không nh bao nhiêu tờ). Sau khi trộm cắp đ ợc, H mang 05 phân vàng đi bán tại ti m vàng H ờng Học (thị trấn Khâm Đức, huy n Ph c n, t nh Quảng Nam) đ ợc 1 720 000đồng. Số tiền bán vàng và tiền trộm cắp đ ợc H đã tiêu xài cá nhân hết. Đối v i chiếc đi n thoại Samsung J6 H sử dụng một thời gian và bị h hỏng nên đã vứt bỏ không tìm lại đ ợc.

Kết luận định giá số: 10/KL- ĐG ngày 27/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huy n Ph c n xác định:

- 05 phân vàng khâu (tại thời điểm cuối tháng 5/2019) có giá trị: 1 720 000đồng;

- 01 đi n thoại Samsung J6 màu xám có giá trị: 3 680 000đồng.

Tổng giá trị tài sản (tiền, vàng, đi n thoại) Hồ Văn H đã hai lần thực hi n hành vi trộm cắp tại nhà bà La Thị C là: 24.889.000đồng.

Tại c quan điều tra, Hồ Văn H đã hai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp nêu trên, lời khai của H phù hợp v i lời khai của bị hại, biên bản khám nghi m hi n tr ờng, biên bản thực nghi m điều tra, biên bản đối chất và các chứng cứ khác có trong hồ s vụ án.

Tại bản Cáo trạng số: 03/CT-VKS-HS ngày 13 tháng 01 năm 2020 Vi n iểm sát nhân dân huy n Ph c n, t nh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Hồ Văn H tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự

Tại phiên t a đại di n Vi n kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối v i bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nh : Phạm tội lần đầu và thuộc tr ờng hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, là ng ời dân tộc thiểu số, hoàn cảnh kinh tế hó hăn vợ bỏ đi, hai con còn nhỏ. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù.

Về dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Hồ Văn H phải có trách nhi m bồi th ờng số tiền còn lại cho bị hại là 24.400.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự trả lại cho bà La Thị C 01 ví nữ màu đen, ích th c 25cm x 15cm x 10 cm có khóa kéo, hông có dây đeo, bên trong có ba ngăn

Luận cứ của ng ời bào chữa: Thống nhất quan điểm của Vi n iểm sát truy tố bị cáo Hồ Văn H tội “Trộm cắp tài sản” và các tình tiết giảm nhẹ nh : Bị cáo đã thành hẩn hai báo, phạm tội lần đầu và thuộc tr ờng hợp ít nghiêm trọng, hoàn cảnh gia đình hết sức hó hăn vợ bỏ đi, hai con c n nhỏ, bị cáo đi hỏi n i c trú để đi làm iếm tiền nuôi con và do bị cáo là ng ời dân tộc thiểu số thiếu hiểu biết pháp luật chứ hông cố tình trốn tránh Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt d i hung mà Vi n iểm sát truy tố để tạo c hội cho bị cáo lao động trả tiền cho bị hại và nuôi con.

Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo vì bị cáo là ng ời dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều i n inh tế- xã hội đặc bi t hó hăn

Bị cáo đồng luận tội của Vi n iểm sát và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt

Bị hại đồng v i luận tội của Vi n iểm sát và đề nghị bị cáo bồi th ờng thi t hại.

Ý iến Vi n iểm sát: Không thống nhất v i iến của ng ời bào chữa về vi c bị cáo hông cố tình trốn tránh hỏi n i c trú Vì bị cáo đã nhận L nh cấm đi hỏi n i c trú và đã đ ợc giải thích nghĩa vụ của mình, nh ng bị cáo đã hông chấp hành gây hó hăn cho c quan pháp luật Không chấp nhận áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo d i hung truy tố, vì Vi n iểm sát đã xem xét hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ để đ a ra mức án nêu trên là phù hợp

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của C quan điều tra Công an huy n Ph c n, t nh Quảng Nam, Điều tra viên, Vi n iểm sát nhân dân huy n Ph c n, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo hai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp v i quy định của pháp luật; bị cáo, bị hại hông có iến hoặc hiếu nại về hành vi, quyết định của C quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của C quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.

Tại phiên t a, bị cáo Hồ Văn H hai nhận hành vi phạm tội của mình nh nội dung bản Cáo trạng đã nêu Lời hai của bị cáo phù hợp v i lời hai của bị cáo tại C quan điều tra, biên bản hám nghi m hi n tr ờng và phù hợp v i các tài li u, chứng cứ hác có trong hồ s vụ án, thể hi n: Vì muốn có tiền để tiêu xài cá nhân, Hồ Văn H đã lợi dụng lúc nhà bà C hông có ng ời ở nhà lén lút vào trộm cắp tài sản vào tr a ngày 22/5/2019 và tối ngày 13/7/2019. Tổng số tài sản mà H trộm cắp có giá trị 24 889 000 đồng.

Bị hại bà La Thị C và Văn Thị Thu T khai: Tr a ngày 22/5/2019, gia đình bà C đi đám c i, nên đã bị mất trộm một cái đi n thoại hi u amsung J6, 05 phân vàng và số tiền 19 000 000 đồng và tối ngày 13/7/2019, gia đình bà C tiếp tục mất số tiền 489 000 đồng

Căn cứ vào lời hai của bị cáo; bị hại đã có đủ c sở để hẳng định Hồ Văn H đã lén lút vào nhà bà La Thị C trộm cắp tài sản có giá trị là 24 889 000 đồng. Nh vậy, hành vi của bị cáo Hồ Văn H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự nh Cáo trạng của Vi n iểm sát nhân dân huy n Ph c n, t nh Quảng Nam truy tố là có căn cứ đúng ng ời, đúng tội, đúng pháp luật

Đánh giá tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Hồ Văn H là thanh niên tuổi còn trẻ, vì muốn có tiền để tiêu xài cá nhân, nh ng hông lao động mà lại lén lút trộm cắp tài sản của nhà bà La Thị C. Bị cáo đã hai lần đột nhập vào nhà bà C để trộm cắp tài sản. Mặc dù, lần trộm cắp tối ngày 13/7/2019 ch a đủ định l ợng để truy cứu trách nhi m hình sự nên hông áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự “Phạm tội hai lần trở lên”. Tuy nhiên, điều này thể hi n sự coi th ờng pháp luật của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của ng ời khác, làm ảnh h ởng đến tình hình trật tự an toàn xã hội. Trong quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo đã bỏ đi hỏi địa ph ng, gây hó hăn cho c quan pháp luật, nên Công an huy n Ph c n đã ra Quyết định truy nã đối v i bị cáo. Vì vậy, xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc t ng xứng v i hành vi phạm tội để giáo dục đối v i bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

. Xét luận tội của Đại diện viện kiểm sát và luận cứ của người bào chữa: Đại di n Vi n iểm sát và ng ời bào chữa cho bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nh : Phạm tội lần đầu và thuộc tr ờng hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, là ng ời dân tộc thiểu số, hoàn cảnh kinh tế hó hăn vợ bỏ đi, hai con còn nhỏ qui định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có c sở cần đ ợc chấp nhận Không chấp nhận đề nghị của ng ời bào chữa về áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt d i hung mà Vi n iểm sát truy tố vì bị cáo đã hai lần thực hi n hành vi trộm cắp, trong quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo đi hỏi n i c trú, nên Công an phải truy nã Do đó, hông chấp nhận xử phạt bị cáo mức hình phạt d i khung.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Hồ Văn H hai lần thực hi n hành vi trộm cắp, tuy nhiên lần thứ hai vào đêm 13/7/2019, số tiền H trộm cắp ch a đủ mức xử lý hình sự nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự “Phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo là ng ời dân tộc thiểu số sống ở xã có điều ki n kinh tế - xã hội đặc bi t hó hăn, phạm tội lần đầu thuộc tr ờng hợp ít nghiêm trọng, thành hẩn hai báo về hành vi phạm tội của mình, hoàn cảnh kinh tế khó hăn vợ bỏ đi hai con còn nhỏ. Vì vậy, áp dụng điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là tình tiết giảm nhẹ hi quyết định hình phạt đối v i bị cáo

Không xử phạt bổ sung vì bị cáo có hoàn cảnh inh tế hó hăn

. Về trách nhiệm dân sự:

Tổng giá trị tài sản mà bị cáo H trộm cắp của bà La Thị C và Văn Thị Thu T số tiền là 24.889 000 đồng C quan điều tra đã thu giữ và trả lại cho bà La Thị C số tiền là 489 000 đồng Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Hồ Văn H phải có trách nhi m bồi th ờng số tiền còn lại cho bà La Thị C và Văn Thị Thu T là 24.400.000 đồng (trong đó bà La Thị C số tiền là 23.400.000 đồng, bà Văn Thị Thu T số tiền là 1.000.000 đồng)

. Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra Công an huy n Ph c n đã thu giữ và trả lại cho bà La Thị C: Số tiền 489.000 đồng (Bốn trăm tám mươi chín nghìn đồng); Trả lại cho bà Văn Thị Thu T 01 túi xách nữ màu đen, ẻ caro, không rõ nhãn hi u, có dây đeo bằng kim loại màu vàng.

Đối v i 01 ví nữ màu đen, ích th c 25cm x 15cm x 10 cm có khóa kéo, hông có dây đeo, bên trong có ba ngăn của bà La Thị C. Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự để trả lại cho bà La Thị C.

Đối v i vật chứng là chiếc đi n thoại Samsung J6, H sử dụng một thời gian bị hỏng nên đã vứt xuống sông thuộc xã Ph c Xuân và chiếc hộp màu hồng, sau khi lấy 05 phân vàng từ trong hộp, H vứt lại chiếc hộp xuống suối gần nhà bà La Thị C. C quan điều tra đã truy tìm chiếc đi n thoại và chiếc hộp màu hồng nêu trên nh ng không có kết quả. Do đó Hội đồng xét xử hông đề cập đến.

. Về án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm: Bị cáo là ng ời dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều i n inh tế- xã hội đặc bi t hó hăn, có đ n xin miễn nộp tiền án phí, nên áp dụng điểm đ hoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và l phí T a án thì bị cáo đ ợc miễn nộp tiền án phí hình sự s thẩm và dân sự s thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hồ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo:

Hồ Văn H: 09 (chín) tháng tù Thời gian chấp hành hình phạt tù đ ợc tính từ ngày bị bắt tạm giữ 20/02/2020

- Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự tuyên buộc bị cáo Hồ Văn H phải có trách nhi m bồi th ờng số tiền còn lại cho bà La Thị C là 23.400.000 đồng (Hai mươi ba triệu bốn trăm ngàn đồng) và bà Văn Thị Thu T là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hi u lực pháp luật và bên đ ợc thi hành án có đ n yêu cầu thi hành án đối v i số tiền đã tuyên mà bên phải thi hành án chậm trả thì hàng tháng bên phải thi hành án c n phải trả cho bên đ ợc thi hành án số tiền lãi t ng ứng v i thời gian chậm trả theo mức lãi suất phát sinh do chậm trả tiền qui định tại Điều 357 và hoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự

- Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự trả lại cho bà La Thị C 01 ví nữ màu đen, ích th c 25cm x 15cm x 10 cm có khóa kéo, không có dây đeo, bên trong có ba ngăn. Vật chứng hi n Chi cục thi hành án dân sự huy n Ph c n đang tạm giữ theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/02/2020.

- Bị cáo đ ợc miễn nộp tiền án phí hình sự s thẩm và án phí dân sự s thẩm.

Bị cáo; bị hại có quyền háng cáo trong hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án s thẩm

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.

Cỡ chữ