vanban.org

Bản án 04/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 12/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Huỳnh Văn Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Đ 12 (mười hai) tháng tù cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/02/2020). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.Trường hợp người đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Huỳnh Văn Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHỤNG HIỆP
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2020/HS-ST
Ngày 12-02-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thành Ý

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thế Tự

2. Ông Phan Công Điện

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Bảo Quốc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2019/HSST ngày 02 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2019/QĐXXST-HS, ngày 23 tháng 12 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2020/HSST-QĐ ngày 13/01/2020 đối với bị cáo:

Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1997, tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn B và bà Nguyễn Thị L; bị cáo chung sống như vợ chồng với Thạch Thị Hoàng V và có 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: bị cáo chưa từng có tiền án, tiền sự; bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 02/10/2019 đến ngày 08/10/2019 chuyển tạm giam cho đến nay. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Phan Long H - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

- Bị hại: Nguyễn Tấn K, sinh năm 1975

Nơi cư trú: ấp S, xã T, huyện A, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Võ Thị Hà T, sinh năm 1984

Nơi cư trú: ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Phước T, sinh ngày 28/9/2002

Nơi cư trú: ấp 5, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

2. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1973

Nơi cư trú: ấp Mỹ Quới, thị trấn Cây Dương, huyện Phụng Hiệp, Hậu Giang. Vắng mặt.

3. Huỳnh Văn H, sinh năm 1987

Nơi cư trú: ấp M, xã H, huyện P, Hậu Giang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 02/10/2019, bị cáo Huỳnh Văn Đ điều khiển xe mô tô hiệu YAMAI-TAX biển kiểm soát 67G1-028.45 trên tỉnh lộ 928 hướng từ xã Hòa Mỹ đến thị trấn Cây Dương để mua sim điện thoại, khi Đ điều khiển xe qua cầu Trường Học thuộc ấp Mỹ Quới, thị trấn Cây Dương thì xe bị hết xăng nên xuống xe dẫn bộ được một đoạn thì Đ thấy anh Nguyễn Tấn K (nhân viên bảo vệ của Ủy ban nhân dân huyện Phụng Hiệp) đang điều khiển xe mô tô hiệu Wave RSX biển số 95E1-258.63 (do chị Võ Thị Hà T đứng tên chủ sở hữu) chạy cùng chiều nên Đ vẫy tay ra hiệu cho anh K dừng xe lại và nhờ anh K kè xe giúp để đi đến chợ Cây Dương. Do không biết kè xe nên chỉ kè được 01 đoạn thì anh K dừng lại kêu Đ đi kiếm chai nhựa để sang chiết xăng từ xe anh K qua xe Đ, anh K vừa nói vừa đi vệ sinh cách xe mô tô biển kiểm soát 95E1-258.63 khoảng 02 mét, lúc này chìa khóa xe vẫn cấm trên ổ khóa và bật chế độ mở thì bất ngờ Đ nhanh chóng lên xe anh K động xe và nhanh chóng chạy về hướng chợ Cây Dương (trên xe có 01 cái cặp màu đen loại cặp đi làm việc), Đ ghé vào tiệm điện thoại di động Đậm Thắm thuộc ấp Mỹ Quới, thị trấn Cây Dương mua sim điện thoại, sau đó Đ ra xe để đi tiếp nhưng không mở được khóa nên Đ dẫn bộ ra bờ sông Lái Hiếu vứt cặp của anh K trên xe xuống sông và tiếp tục dẫn xe đến bãi giữ xe của Trung tâm y tế huyện Phụng Hiệp để gửi xe. Sau khi gửi xe Đ điện thoại cho anh ruột là Huỳnh Văn H đến chở về nhà, trong lúc chờ anh H đến thì Đ bị Công an bắt giữ. Quá trình điều tra Huỳnh Văn Đ đã khai nH toàn bộ hành vi phạm tội của mình (bút lục 63-70).

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐGTS ngày 07/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang kết luận: Xe mô tô hiệu Wave RSX biển số 95E1 – 258.63 có giá trị là 3.858.000 đồng.

Vật chứng trong vụ án:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phụng Hiệp thu giữ 01 chìa khóa xe và 01 xe mô tô hiệu Wave RSX biển số 95E1 – 258.63, đã trả cho chủ sở hữu là chị Võ Thị Hà T.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phụng Hiệp đã thu giữ và nhập kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp: 01 xe mô tô hiệu YAMAI-TAX biển kiểm soát 67G1-028.45, đã qua sử dụng; 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Thạch Thị Hoàng Vy; 01 điện thoại di động hiệu Wiko màu đỏ, loại cảm ứng đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, loại bàn phím đã qua sử dụng; 01 sim Vietnamobile đã qua sử dụng; tiền Việt Nam 371.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 59/CT-VKS-HPH, ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Huỳnh Văn Đ về tội “Cướp giật tài sản” theo Khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng. Sau k hi phân tích tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, kiểm sát viên đề nghị:

-Về điều luật: áp dụng Khoản 1 Điều 171 , Điều 50, điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng và trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị giao trả lại cho bị cáo: Tiền Việt Nam: 371.000 đồng; 01 thẻ gắn sim Vietnamobile, đã qua sử dụng không xác định được tình trạng sử dụng; 01 xe mô tô biển số 67G1-028.45; 01 điện thoại di động hiệu WiKo màu đỏ loại cảm ứng; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen, loại bàn phím; 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Thạch Thị Hoàng Vy.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo trình bày: Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, là hộ nghèo, bị cáo là lao động chính trong gia đình; vợ bỏ nhà đi để lại nuôi 02 đứa con nhỏ đều dưới 36 tháng tuổi; trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xem xét áp dụng mức hình phạt thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Tại phiên tòa hôm nay, người bị hại không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, về trách nhiệm hình sự: yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và có yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan đến vụ án đều không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa hôm nay. Từ đó, đã có căn cứ kết luận: Lúc khoảng 20 giờ ngày 02/10/2019, bị cáo Huỳnh Văn Đ nhờ bị hại Nguyễn Tấn K đang điều khiển xe mô tô giúp kè xe mô tô của bị cáo điều khiển cùng chiều khi bị hết xăng, phía bị hại kè xe bị cáo được khoảng 100m thì dừng lại kêu bị cáo kiếm chai để bị hại chiết xăng cho, đồng thời cùng lúc này bị hại xuống xe đi vệ sinh nhưng xe vẫn còn mở khóa; lợi dụng sự thiếu cảnh giác của người bị hại, bị cáo liền nhanh chóng lên xe của bị hại điều khiển tẩu thoát để chiếm đoạt xe mô tô hiệu wave RSX biển số 95E1-258.63.

Căn cứ Bản kết luận định giá số 47/KL-HĐĐGTS ngày 07/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Phụng Hiệp thì xe mô tô của bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 3.858.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã lợi dụng sự thiếu cảnh giác của người bị hại, đã nhanh chóng chiếm đoạt xe mô tô hiệu wave RSX biển số 95E1-258.63 của người bị hại là bị cáo Huỳnh Văn Đ là phạm tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại Khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp đã truy tố.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ hành vi lợi dụng thiếu cảnh giác của người bị hại để nhanh chóng chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người khác để làm định đoạt riêng cho bị cáo là pháp luật nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, mong muốn cho hậu quả xảy ra. Hành vi cướp giật tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác mà còn xâm phạm nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Do đó đối với bị cáo cần áp mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả của bị cáo gây ra mới có đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu, từ trước đến nay chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có hoàn cảnh gia đình thuộc hộ nghèo; cha, mẹ bị cáo là người cao tuổi, cha bệnh tai biến nặng, vợ bỏ đi để lại 02 con dưới 36 tháng tuổi, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình; tại phiên tòa hôm nay người bị hại yêu cầu giảm nhẹ mức án cho bị cáo; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s Khoản 1 và các tình tiết giảm nhẹ tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, do đó Hội đồng xét xử thấy rằng không cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn mà xử bị cáo với hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự.

Áp dụng Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả tự do tại phiên tòa cho bị cáo do bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác và bị xử phạt tù nhưng được hưởng án treo.

Về xử lý vật chứng: Giao trả lại cho bị cáo số vật chứng không phải là công cụ, phương tiện phạm tội gồm:

- Tiền Việt Nam: 371.000 đồng.

- 01 thẻ gắn sim Vietnamobile, đã qua sử dụng không xác định được tình trạng sử dụng.

- 01 xe mô tô biển số 67G1-028.45.

- 01 điện thoại di động hiệu WiKo màu đỏ loại cảm ứng.

- 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen, loại bàn phím.

- 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Thạch Thị Hoàng Vy.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng điều luật, về hình phạt cũng như xử lý vật chứng là đúng với quy định của pháp luật, lời bào chữa của trợ giúp viên pháp lý là có căn cứ và có cùng nhận định với Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng các điều 12 và 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn toàn bộ án phí cho bị cáo do bị cáo là cá nhân thuộc hộ nghèo.

Bị cáo, bị hại và những người có quyền, ngh a vụ liên quan được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Huỳnh Văn Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 171 , Điều 50, điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Đ 12 (mười hai) tháng tù cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/02/2020). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm ngh a vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.

Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Giao trả cho bị cáo: Tiền Việt nam: 371.000 đồng; 01 thẻ gắn sim Vietnamobile, đã qua sử dụng không xác định được tình trạng sử dụng; 01 xe mô tô biển số 67G1-028.45; 01 điện thoại di động hiệu WiKo màu đỏ loại cảm ứng; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen, loại bàn phím; 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Thạch Thị Hoàng V. Số vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp đang quản lý.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ các điều 12 và 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với những người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ