vanban.org

Bản án 04/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên Tuyên án 12/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lỳ Hừ Ch phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt bị cáo Lỳ Hừ Ch 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Lỳ Hừ Ch đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lỳ Hừ Ch - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lỳ Hừ Ch phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƢỜNG NHÉ
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2020/HS-ST
Ngày 12-11-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Chu Thị Hiền

Bà Ly Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Công Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 12/11/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2020/TLST-HS ngày 16/10/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2020/QĐXXST-HS ngày 30/10/2020 đối với bị cáo:

Lỳ Hừ Ch (Tên gọi khác: không); Sinh năm 1973 tại xã S, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản T, xã S, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hoá: không; Dân tộc: Hà Nhì; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lỳ Ứ H (sinh năm 1949) và bà Mạ Tư S (sinh năm 1962); Có vợ là Lò Á M (sinh năm 1979) và có 03 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/9/2020 đến nay, có mặt.

Bị hại:

-Anh Lỳ Go S; Sinh năm 1986, trú tại: Bản T, xã S, huyện M, tỉnh Điện Biên, vắng mặt có lý do.

- Ông Vù Vù S; Sinh năm 1963, trú tại: Bản T, xã S, huyện M, tỉnh Điện Biên, vắng mặt có lý do.

Đại diện hợp pháp cho ông Vù Vù S là chị Lỳ Pó M, sinh năm 1999, địa chỉ: Bản T, xã S, huyện M, tỉnh Điện Biên (Văn bản ủy quyền ngày 29/10/2020),vắng mặt có lý do.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Pờ A M, sinh năm 1994, trú tại: Bản Đ, xã Ch, huyện M, tỉnh Điện Biên, vắng mặt có lý do.

- Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1984, trú tại: Bản S, xã L, huyện M, tỉnh Điện Biên, vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 01/9/2020 Lỳ Hừ Ch đi bộ xuống khu bãi ruộng của gia đình tại bản T, xã S, huyện M thì nhìn thấy 01 con bò cái, da lông màu vàng đang ăn cỏ và không có người trông coi. Ch nảy sinh ý định bắt con bò đó và xẻ thịt để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Ch quay về nhà lấy 01 con dao nhọn, 01 bao tải và 01 đoạn dây thừng của gia đình quay lại chỗ con bò và dùng dây thừng xỏ mũi dắt con bò đến gần khe suối, buộc con bò lại, dùng dao mang theo đâm chết con bò, Ch dùng dao xẻ thịt con bò và lọc lấy 04 đùi của con bò cho vào bao tải và quay về nhà. Đến 14 giờ cùng ngày Ch về đến nhà và gọi điện thoại cho Pờ A M ở bản Đ, xã Ch, huyện M đưa Ch đi bán thịt bò. Đến 15 giờ cùng ngày M chở Ch đi bán toàn bộ số thịt bò đã trộm được cho chị Nguyễn Thị Th ở bản S, xã L, huyện M được 2.640.000 đồng. Sau khi lấy được tiền Ch chi tiêu cá nhân hết. Còn chị Th đã bán hết số thịt bò mua được của Ch cho người qua đường, không biết tên tuổi địa chỉ của những người mua.

Quá trình điều tra làm rõ: 01 con bò cái da lông màu vàng, khoảng 4 tuổi thuộc sở hữu của gia đình anh Lỳ Go S và ông Vù Vù S cùng ở bản T, xã S, huyện M, tỉnh Điện Biên. Đây là con bò được UBND huyện Mường Nhé hỗ trợ cho anh S và anh S theo dự án hỗ trợ phát triển sản xuất thuộc chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới xã S, huyện M.

Bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐ ĐGTSTTHS ngày 10/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự UBND huyện Mường Nhé kết luận:

Giá thực tế của tài sản: Một con bò cái lông màu vàng, khoảng 4 tuổi có giá 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng).

Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Nhé đã thu giữ: 01 đoạn dây thừng và 01 con dao nhọn của Lỳ Hừ Ch.

Ngày 21/9/2020 gia đình bị cáo Lỳ Hừ Ch nộp cho cơ quan điều tra 16.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho các gia đình bị hại.

Ngày 28/9/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Mường Nhé đã giao lại cho gia đình ông Vù Vù S và anh Lỳ Go S số tiền mà gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại là 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng).

Cáo trạng số 57/CT-VKS-MN ngày 14/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Lỳ Hừ Ch để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố, phần luận tội đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lỳ Hừ Ch từ 12 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo; Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao nhọn và 01 đoạn dây thừng;

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự ; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã tóm tắt ở trên và đúng như cáo trạng truy tố. Bị cáo không tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát, lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về những bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đầy đủ lời khai và ý kiến trong hồ sơ, xét thấy sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xét hành vi phạm tội và những căn cứ xác định tội danh của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai: Ngày 01/9/2020 lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu bị cáo Lỳ Hừ Ch đã trộm cắp của ông Vù Vù S và anh Lỳ Go S 01 con bò cái 4 tuổi da lông màu vàng, sau đó dùng dây thừng dắt con bò đến khe suối thuộc bản T, xã S, huyện M, dùng dao đâm chết con bò và xẻ thịt lấy 04 đùi của con bò, sau đó gọi điện nhờ Pờ A M đưa đi bán cho chị Nguyễn Thị Th được 2.640.000 đồng, số tiền bán được thịt bò bị cáo chi tiêu cá nhân hết. Con bò mà bị cáo trộm cắp có giá trị 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng). Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết luận điều tra, phù hợp với cáo trạng truy tố và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 57/CT-VKS-MN ngày 14/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố bị cáo để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Xét về tính chất vụ án: Đây là vụ án xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Lỳ Hừ Ch là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo đã tích cực tác động đến gia đình của bị cáo để tự nguyện bồi thường cho gia đình các bị hại 16.000.000 đồng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự,quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chấp hành đúng chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ sức răn đe. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo; Xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp các quy định của pháp luật nên cần xử phạt bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát.

Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo còn nhiều khó khăn nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Pờ A M là người đã dùng xe máy của anh M đưa bị cáo Ch đi bán thịt bò, quá trình điều tra đã làm rõ anh M không biết số thịt bò đó là tài sản do bị cáo Ch trộm cắp mà có nên không đặt vấn đề xử lý về hình sự đối với anh M và không đặt vấn đề xử lý đối với chiếc xe máy của anh M trong vụ án này.

Đối với chị Nguyễn Thị Th là người đã mua thịt bò của bị cáo Ch, quá trình điều tra đã làm rõ chị Th không biết số thịt bò đó là tài sản do bị cáo Ch trộm cắp mà có nên không đặt vấn đề xử lý về hình sự đối với chị Th trong vụ án này.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại anh Lỳ Go S và ông Vù Vù S, đại diện hợp pháp của ông Vù Vù S là chị Lỳ Pó M vắng mặt tại phiên tòa có lý do.Trong quá trình giải quyết vụ án các bị hại đã nhận được tiền bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả là 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng). Trong đơn xin xét xử vắng mặt các bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị xử lý bị cáo theo quy định pháp luật và không ý kiến gì về trách niệm dân sự, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với các vật chứng: 01 đoạn dây thừng và 01 con dao nhọn, xét thấy đây là những công cụ mà bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc bao tải mà bị cáo đựng thịt bò mang đi bán, cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng do người mua thịt bò đã đốt cháy hết nên không đặt vấn đề xử lý trong vụ án.

Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí nên cần miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lỳ Hừ Ch phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự:

Xử phạt bị cáo Lỳ Hừ Ch 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Lỳ Hừ Ch đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Lỳ Hừ Ch cho Ủy ban nhân dân xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên và gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 2 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao nhọn có chiều dài 40 cm và 01 đoạn dây thừng có chiều dài 88 cm, đường kính 0,5 cm của bị cáo Lỳ Hừ Ch.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/10/2020 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ