- Tranh chấp gì? án hình sự — "A V phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ G TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/HS-ST Ngày: 16/6/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ G, TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Tài.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Y Vũ và Bà Y Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ G, tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ G tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thùy An - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ G, tỉnh Kon Tum, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2020/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: V (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; sinh ngày 28 tháng 3 năm 1998 tại huyện Đ G, tỉnh Kon Tum; Nơi đăng ký NKTT: Thôn Đăk Gô, xã Đ K, huyện Đ G, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Giẻ - Triêng; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông A P và bà Y Đ; Sống chung như vợ chồng với Y Nh, sinh năm: 2000, có 01 con sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/3/2020 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Anh Mạch Tuấn Th; sinh năm 1996.
Địa chỉ: Xóm Gốc Thị, xã Nam Hòa, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi ở hiện nay: Thôn Đăk Gô, xã Đ K, huyện Đ G, tỉnh Kon Tum. Có mặt
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Y Song, sinh năm 1997 (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Đăk Gô, xã Đ K, huyện Đ G, tỉnh Kon Tum.
- Những người làm chứng:
+ Anh A B (A B), sinh năm 1990 (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Đăk Gô, xã Đ K, huyện Đ G, tỉnh Kon Tum.
+ Anh A Đ, sinh năm 1997 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn Đăk Gô, xã Đ K, huyện Đ G, tỉnh Kon Tum.
+ Anh A U, sinh năm 1991 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Đăk Gô, xã Đ K, huyện Đ G, tỉnh Kon Tum .
+ Ông A P, sinh năm 1972 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Đăk Gô, xã Đ K, huyện Đ G, tỉnh Kon Tum .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 01/01/2020, Mạch Tuấn Th (sinh năm 1996, HKTT: xóm Gốc Thị, xã N H, huyện Đ H, tỉnh Thái Nguyên) đến nhà ông A P (sinh năm 1972, HKTT: Thôn Đăk Gô, xã Đ K, huyện Đ G, tỉnh Kon Tum) mượn hai cuộn dây điện để đi kích cá. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Mạch Tuấn Th về nhà vợ là Y S (Sinh năm 1997, sống chung như vợ chồng và không đăng ký kết hôn) tại thôn Đăk Gô, xã Đ K, huyện Đ G, tỉnh Kon Tum để ăn tối. Lúc này, ông A P đến chơi và cùng ăn cơm, uống rượu với Mạch Tuấn Th. Trong lúc uống rượu, ông A P kể cho Thành nghe chuyện trước đây bị con trai là V (sinh năm 1998, HKTT: Thôn Đăk Gô, xã Đ K, huyện Đ G, tỉnh Kon Tum) đánh.
Khoảng 19 giờ cùng ngày, sau khi ăn uống xong, ông A P lên phòng khách xem ti vi, còn Mạch Tuấn Th mang theo 01 cái rựa và điều khiển xe mô tô chở 02 cuộn dây điện đi qua nhà ông A P để trả thì gặp V đang nằm trên giường trong phòng khách. Mạch Tuấn Th đi ra ngoài dùng rựa cắt dây buộc 02 cuộn dây điện trên xe mô tô và mang vào nhà đưa cho V cất, tay phải của Thành vẫn cầm rựa. Sau đó, Mạch Tuấn Th hỏi V “Mày đánh bố mày mấy lần rồi”, V trả lời “Đâu có anh, chuyện xảy ra lâu rồi”. Vì thấy Mạch Tuấn Th cầm rựa, V cho rằng Thành có ý định chém mình nên đã tiến đến giật lấy rựa trên tay Mạch Tuấn Th và lùi lại khoảng 01 mét. Lúc này, Mạch Tuấn Th lớn tiếng quát “Mày dám đánh anh luôn hả” và tiến đến chỗ V. Cho rằng Mạch Tuấn Th định đánh mình nên V đã dùng rựa chém vào nửa đầu bên trái của Mạch Tuấn Th gây thương tích.
Sau đó, V đi báo lại sự việc cho em gái là Y Vương (sinh năm 2003, HKTT: Thôn Đăk Gô, xã Đ K, huyện Đ G, tỉnh Kon Tum). Y V biết chuyện đã báo tin cho chú họ là A Đ (sinh năm 1997, HKTT: Thôn Đăk Gô, xã Đ K, huyện Đ G, tỉnh Kon Tum) biết. Sau đó, A Đ đã rủ A B (tên gọi khác: A B, sinh năm 1990; HKTT: Thôn Đăk Gô, xã Đ K, huyện Đ G, tỉnh Kon Tum) và A U (sinh năm 1991, HKTT: Thôn Đăk Gô, xã Đ K, huyện Đ G, tỉnh Kon Tum) cùng đi đến nhà V để xem tình hình. Mạch Tuấn Th sau khi được người dân xung quanh sơ cứu vết thương đã quay lại nhà V thì gặp V, A Đ, A B, A U cũng vừa về đến nhà. Do mâu thuẫn chưa được giải quyết nên V, A B lại xảy ra xô xát với Mạch Tuấn Th. V và A B lần lượt dùng cây gậy bời lời đánh vào đầu của Mạch Tuấn Th tại phòng khách, còn A Đ và A U đứng ngoài sân, không tham gia đánh Mạch Tuấn Th. Sau đó, A B, A Đ và A U đi về còn Mạch Tuấn Th được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa khu vực Ngọc Hồi.
Ngày 17/01/2020, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ G ra Quyết định trưng cầu giám định số 01, trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh Kon Tum giám định tỷ lệ phần trăm thương tích của Mạch Tuấn Th và xác định vật gây thương tích.
Ngày 22/01/2020, Trung tâm Pháp y tỉnh Kon Tum có Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 06/TgT-TTPY, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Mạch Tuấn Th tại thời điểm giám định là 11,73% làm tròn 12% (mười hai phần trăm). Vật gây nên thương tích: Vật sắc.
Cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 22/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ G truy tố bị cáo V về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ, khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ, khoản 2 Điều 134; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo từ 10 đến 12 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường, người bị hại không có đề nghị gì, nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ G đã truy tố và không có ý kiến gì khác. Bị hại là anh Mạch Tuấn Th xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo V đã bồi thường cho anh Mạch Tuấn Th tổng số tiền 16.500.000 đồng (Mười sáu triệu, năm trăm nghìn đồng), anh Mạch Tuấn Th không có yêu cầu gì thêm.
Lời nói sau cùng: Bị cáo biết việc làm của bị cáo là vi phạm pháp luật xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Đ G, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ G, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo không có ý kiến gì và cũng không khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Y S và những người làm chứng là A B, A U, A P vắng mặt tại phiên tòa. Nhận thấy sự vắng mặt của những người nêu trên không làm ảnh hưởng tới quá trình xét xử, lời khai của họ đã được thể hiện tại hồ sơ vụ án trong quá trình điều tra nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường, Kết luận giám định thương tích, vật chứng của vụ án và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 01/01/2020, tại nhà của bị cáo V tại thôn Đăk Gô, xã Đ K, khi thấy Mạch Tuấn Th đi vào nhà, tay có cầm rựa và nói lớn tiếng nên V đã giật lấy cây rựa. Thấy anh Thành vẫn lớn tiếng và tiến lại phía mình, sợ bị anh Thành đánh nên bị cáo đã dùng rựa chém vào đầu anh Mạch Tuấn Th gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12% (theo Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 06/TgT-TTPY ngày 22/01/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Kon Tum).
Như vậy, bị cáo V đã có hành vi trực tiếp dùng rựa (vật sắc nhọn) là hung khí nguy hiểm gây nên thương tích 12% đối với anh Mạch Tuấn Th. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ G truy tố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ, Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng. Bởi lẽ, trước và trong khi phạm tội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, giữa bị cáo và anh Mạch Tuấn Th không có mâu thuẫn hay xích mích gì. Vì thấy anh Thành lớn tiếng nên bị cáo giật cây rựa từ tay anh Thành, anh Thành tiến lại phía bị cáo và chưa có động thái tấn công gì thì bị cáo ngay lập tức dùng rựa chém vào đầu của anh Thành. Đồng thời, sau khi đến nhà chị Y S về, do mâu thuẫn chưa được giải quyết, bị cáo tiếp tục dùng cây gậy bời lời để đánh vào đầu anh Mạch Tuấn Th. Hành động này cho thấy hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự hung hãn, ý thức coi thường pháp luật và xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác.
Do đó, cần phải xử phạt bị cáo với một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung. Nhưng xét bị hại là anh Mạch Tuấn Th cũng có một phần lỗi, do sau khi uống rượu say đã cầm rựa đi vào nhà và chỉ vào mặt bị cáo quát lớn tiếng khiến bị cáo sợ hãi và gây nên hành vi phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo và gia đình đã chủ động thăm hỏi và bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 16.500.000 (Mười sáu triệu, năm trăm nghìn đồng); Bị cáo có nhân thân tốt; Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị hại cũng có lỗi một phần. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy HĐXX thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo.
Đối với A B đã có hành vi dùng cây gậy bời lời đánh vào đầu Mạch Tuấn Th nhưng không gây thương tích, anh Thành có đơn từ chối giám định tỷ lệ thương tật do đó không cấu thành tội phạm. Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ G đã chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến Công an huyện Đ G đề nghị xử lý hành chính đối với A B là có cơ sở nên HĐXX không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường cho người bị hại, Người bị hại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng:
- 01 cây rựa bằng kim loại dài tổng thể 48 cm, trong đó phần cán gỗ dài 22 cm, lưỡi kim loại dài 26 cm, xét thấy cần trả lại cho chị Y S là đúng theo quy định của pháp luật.
- 01 (một) gậy gỗ dài 65 cm, đường kính 3,5 cm, một đầu gậy gỗ được vót nhọn, một đầu còn lại tù. Trên gậy gỗ có vết đỏ nghi là máu. Xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo V 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c, khoản 2; điểm b, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho chị Y S 01 (một) cây rựa và tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây gậy gỗ là vật chứng của vụ án.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an huyện Đ G và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Đ G ngày 28/4/2020).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 6; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ Điều 331, 333 BLTTHS: Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/6/2020), người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Bị hại; - Người CQLNVLQ; - VKSND huyện ĐăkGlei; - VKSND tỉnh Kon Tum; - TAND tỉnh Kon Tum; - Sơ Tư pháp tỉnh Kon Tum; - CA huyện ĐăkGlei; - Chi cục THADS huyện ĐăkGlei; - Lưu HS vụ án. THÀNH VIÊN HỘI DỒNG XÉT XỬ Y Thủy Nguyễn Văn Vững | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Đình Tài THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Đình Tài |