- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mong Thị Ánh Hồng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mong Thị Ánh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy các chất ma túy; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/HS-ST. Ngày: 10-4-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Trí
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Tấn Thành- Cán bộ tư pháp.
Ông Trần Quang Vinh- Phó hiệu trưởng trường tiểu học xã Vĩnh Công.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Hồng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An:
Ông Nguyễn Tấn Vũ, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành,
mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2020/HSST ngày 19 tháng 02 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Mong Thị Ánh H (tên gọi khác: N), sinh năm: 1989; Nơi
sinh: Kiên Giang; Nơi đăng ký HKTT: đường Nam H, tổ A, khu phố B, phường Tô C, thành phố Hà T, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở hiện nay: ấp X, thị trấn V huyện T, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Mong Bình H và bà Nguyễn Thu T; chồng Đỗ Văn V (chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn); 01 con sinh năm 2011.
Tiền sự: không;
Tiền án: không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/10/2019, đến ngày 06/11/2019 chuyển sang
tạm giam.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Tấn L, sinh năm:
1994. Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại
phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 28/10/2019, đội Cảnh sát điều tra tội phạm
về Kinh tế và Ma tuý, thuộc Công an huyện Châu Thành, tỉnh Long An đã kiểm tra hành chính tại phòng trọ số 1 nhà trọ Bi B do bị cáo Mong Thị Ánh H thuê trọ, địa chỉ ấp Hội Xuân, thị trấn V, huyện T, tỉnh Long An. Qua kiểm tra trên la phông phòng trọ đã thu giữ một bịch mũ màu đen, bên trong gồm có:
- Một gói ny long bên trong có 06 gói ny long nhỏ được hàn kín hai đầu,
chứa tinh thể chất rắn màu trắng.
- Một gói ny long bên trong chứa tinh thể chất rắn màu trắng, được hàn
kín hai đầu.
- Một gói ny long bên trong có 01 viên nén màu hồng và 17 viên nén màu
xanh.
- 01 cân tiểu ly, 14 ống thủy tinh và 214 gói ny long chưa sử dụng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung J 7, cùng sim số 0969411434.
Quá trình điều tra bị cáo Mong Thị Ánh H khai nhận: Đầu năm 2019, bị
cáo thuê phòng trọ số 01 thuộc nhà trọ Bi B để làm thuê tại quán Bi Bi. Ngày 25/10/2019, bị cáo có mượn điện thoại của ông Phạm Tấn L để liên lạc với người tên Quang ở thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang mua 14.000.000 đồng tiền ma túy nhằm để sử dụng.
Ngoài ra bị cáo còn khai nhận 06 lần mua ma túy trái phép của tên Quang
để bán lại cho khách đến hát karaoke ở quán Bi B, nhưng không xác định rõ những người mua ma túy và tên Quang cũng không rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Châu Thành không xử lý.
Sau khi tạm giữ đồ vật, tài liệu cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện
Châu Thành đã làm rõ các tài sản không liên quan đến việc phạm tội, nên đã trả cho chủ sở hữu là ông L một điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung J 7 và ông L không có ý kiến gì và không có yêu cầu gì khác.
Tiếp tục tạm giữ 01 cân tiểu ly, 14 ống thủy tinh và 214 gói ny long chưa
qua sử dụng của bị cáo Hồng.
Theo kết luận số 4883/C09B ngày 04/11/2019 của Phân viện khoa học
hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- Tinh thể màu trắng đựng trong 06 gói ny lon (ký hiệu M1) được niêm
phong gởi giám định là ma túy, tổng khối lượng 4,0695 gam, loại Ketamine.
- Tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói ny lon lớn (ký hiệu M2) được
niêm phong gởi giám định là ma túy, khối lượng 14,5782 gam, loại methamphe tamine.
- 17 viên nén màu xanh hình con chim cú đựng trong 01 gói ny lon (ký
hiệu M3.1) được niêm phong gởi giám định là ma túy, tổng khối lượng 6,6220 gam, loại methamphetamine, MDMA.
- 01 viên nén màu hồng hình cái khiên đựng trong 01 gói ny lon (ký hiệu
M3.2) được niêm phong gởi giám định là ma túy, khối lượng 0,3649 gam, loại methamphetamine, MDMA.
Bị cáo H không có ý kiến gì các kết luận giám định.
Trong quá trình điều tra bị cáo H thừa nhận hành vi phạm tội và đã khai
nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan; cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số: 03/CT-VKSCT ngày 18/02/2020 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An đã truy tố bị cáo: Mong Thị Ánh H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với người tên Q đã bán ma tuý cho bị cáo H và những người mua ma
túy của bị cáo H do không có họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra không làm việc và xử lý hình sự.
Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án
đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công
an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án:
Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 28/10/2019, đội Cảnh sát điều tra tội phạm
về Kinh tế và Ma tuý thuộc Công an huyện Châu Thành, tỉnh Long An đã kiểm tra hành chính trên la phông phòng trọ số 1 nhà trọ Bi B. Qua quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Châu Thành đã chứng minh được bị cáo Mong Thị Ánh H “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tại phiên toà bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình; Lời khai nhận tội của bị cáo H tại phiên tòa phù hợp với lời trình bày trong quá trình điều tra vụ án, phù hợp với lời khai của người liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Với các chứng cứ nêu trên có đủ căn cứ kết luận bị cáo H phạm tội
“Tàng trữ trái phép chất ma túy” mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo H theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo về tội danh
và hình phạt như trên là có căn cứ. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; các điều 38, 50, điểm
s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo: Mong Thị Ánh H từ 06 (sáu) năm tù đến 07 (bảy) năm tù là phù hợp.
Tại Điều 249 Bộ luật hình sự quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy”.
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích
mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05
năm đến 10 năm:
n) có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các
chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này…”
Xét thấy, bị cáo đã biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành
vi bị nghiêm cấm, vì ma túy là một loại chất được quản lý chặt chẽ theo quy định của pháp luật. Bị cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật sẽ bị pháp luật xử lý nghiêm minh nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm minh để răn đe và phòng ngừa chung. Hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự và gây hậu quả xấu ở địa phương, gây mất đoàn kết trong nhân dân, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính xem thường pháp luật.
Để lập lại trật tự kỷ cương của pháp luật, cần tuyên cho bị cáo một hình
phạt tương xứng với hành vi phạm tội, thì mới đề cao tính nghiêm minh của pháp luật cũng như răn đe và phòng ngừa chung. Vì vậy, nên xét cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cải sửa bản thân, là người có ích cho xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình nghị án cần xem xét đến nhân thân của bị cáo
để có mức hình phạt tương xứng. Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo H thật thà khai báo, ăn năn hối cải; thuộc điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo H có bà Nội là người có công cách mạng thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tài sản tạm giữ:
- Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung J7 của ông Phạm Tấn L
cho bị cáo H mượn để sử dụng nhưng ông L không biết bị cáo H dùng để liên lạc “Mua bán trái phép chất ma túy” nên không thu giữ và đã trả lại cho ông L và ông L không có ý kiến gì, không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với người tên Quang bán ma tuý cho bị cáo H và những người mua
ma túy của bị cáo H, do không có họ tên và địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Châu Thành không xử lý bị cáo H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là phù hợp.
- Đối với các chất ma túy còn lại sau giám định gồm: mẫu M1: 3,4256
gam loại Ketamine; mẫu M2: 13,5705 gam loại methamphetamine; mẫu M3.1: 3,9043 gam loại methamphetamine, MDMA; 14 ống thủy tinh; 01 cân tiểu ly; 214 bịch ny lon chưa qua sử dụng; 01 sim số 0969411434 của bị cáo Hồng cần tiếp tục tạm giữ và cần tịch thu tiêu hủy. Theo biên bản giao nhận ngày 18/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
Đối với chất ma túy mẫu M3.2 qua giám định đã sử dụng hết nên Hội
đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Mong Thị Ánh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất
ma túy”.
- Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; các điều 38, 50; điểm s khoản 1,
khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Mong Thị Ánh H 06 (sáu) năm tù. Thời gian tù được tính
từ ngày bị cáo tạm giữ là ngày 28/10/2019 đến ngày 06/11/2019 chuyển sang tạm giam.
2. Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45
ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/4/2020) để đảm bảo cho việc thi hành án.
3. Về tài sản tạm giữ: Áp dụng các điều 46, 47 Bộ luật hình sự và Điều
106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy các chất ma túy còn lại gồm mẫu M1: 3,4256 gam loại Ketamine; mẫu M2: 13,5705 gam loại methamphetamine; mẫu M3.1: 3,9043 gam loại methamphetamine, MDMA; 14 ống thủy tinh; 01 cân tiểu ly; 214 bịch ny lon chưa qua sử dụng; 01 sim số 0969411434 của bị cáo Hồng. Theo biên bản giao nhận ngày 18/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố
tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh - Viện kiểm sát huyện - Chi cục THA dân sự huyện - Bị cáo; Các đương sự. -Lưu (hồ sơ, án văn) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Bảo Trí |