vanban.org

Bản án 04/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 19/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Thạch U phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Thạch U 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 24 tháng 11 năm 2019. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Thạch U trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thạch U phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU NGANG
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2020/HS-ST.
Ngày 19/02/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thanh Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Nam.

Bà Thạch Thị Yến Linh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Chung Hữu Toàn, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Hứa Văn Biên, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2020/TLST-HS, ngày 20 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2020/QĐXXST- HS, ngày 04 tháng 02 năm 2020 và Thông báo dời thời gian xét xử số: 03/TB-TA, ngày 17/02/2020 đối với:

Bị cáo Thạch U, sinh năm 1996, nơi sinh tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn 3/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch T, sinh năm 1948 (chết) và bà Kim Thị Xuân N, sinh năm 1952 (chết); anh chị em ruột gồm 08 người (kể cả bị cáo), lớn nhất sinh năm 1973, nhỏ nhất là bị cáo;

Tiền án 01 lần. Ngày 13/8/2015 bị Tòa án huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản đến nay chưa được xóa án tích, do chưa chấp hành phần bồi thường thiệt hại tài sản.

Tiền sự:

- Ngày 27/01/2015 bị Công an huyện Cầu Ngang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, đến nay đã được xóa.

- Ngày 03/5/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiên bắt buộc thời hạn 24 tháng, đến ngày 10/11/2019 chấp hành xong trở về địa phương.

Nhân thân: Có tiền án; có tiền sự; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/11/2019, đến nay, bị cáo có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Thạch U: Bà Nguyễn Thị Hồng T là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

Bị hại: Anh Thạch L, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

Người phiên dịch: Ông Kim Na R - nguyên Cán bộ phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ, ngày15/11/2019, sau khi uống rượu, bị can Thạch U nảy sinh ý định trộm cắp tài sản là chiếc điện thoại di động để sử dụng. Lúc này, bị can một mình đi bộ đến Bệnh viện Đa khoa Khu vực huyện Cầu Ngang thuộc khóm M, thị trấn C, huyện C, rồi leo tường rào vào bên trong Bệnh viện và đứng quan sát các phòng bệnh nhân trong khoa sản nhằm tìm kiếm tài sản để lấy trộm.

Lúc này bị can Thạch U phát hiện trong phòng số 07 có một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I phone 7 Plus, màu đỏ, bên ngoài có ốp lưng bằng nhựa trong suốt có viền màu đen (có số thuê bao 0359.924.802) của anh Thạch L, ngụ ấp L, xã T, huyện C đang cấm sạc pin để trên giường số 13. Do phát hiện anh Thạch L và mọi người trong phòng bệnh số 07 còn thức nên bị can đi ra phía sau phòng bệnh của Khoa sản ngồi đợi cho đến khi mọi người ngủ say để vào lấy trộm chiếc điện thoại di động. Đến khoảng 02 giờ 15 phút, ngày 16/11/2019, khi thấy mọi người trong phòng bệnh số 07 đã ngủ, bị can đi đến dùng tay mở nhẹ cánh cửa trước và lén lút đi vào phòng đến vị trí chiếc điện thoại di động đang cắm sạc pin, bị can dùng tay phải rút cục sạc pin ra khỏi ổ cắm điện, tay trái lấy điện thoại di động rồi tẩu thoát ra ngoài.

Sau khi lấy trộm được tài sản, bị can đi bộ về nhà thuộc ấp T, xã T, huyện C để chiếc điện thoại di động vừa trộm được vào trong túi xách màu đen và cất giấu vào cái lu trong nhà. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, anh Thạch L phát hiện bị mất điện thoại đi động nên trình báo Cơ quan Công an, vụ việc được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Ngang xác minh làm rõ bị can đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, đồng thời quản lý vật chứng gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu I phone 7 Plus, màu đỏ, bên ngoài có ốp lưng bằng nhựa trong suốt có viền màu đen và 01 cục sạc điện thoại di động màu trắng.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 15/KL.HĐĐG, ngày 22/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cầu Ngang, kết luận 01 điện thoại di động nhãn hiệu I phone 7 Plus, màu đỏ; 01 ốp lưng bằng nhựa trong suốt có viền màu đen; 01 cục sạc điện thoại di động màu trắng, có tổng trị giá là 10.521.000 đồng.

Ngày 24/11/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Ngang ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Thạch U về tội Trộm cắp tài sản, đồng thời áp dụng biện pháp ngăn chặn ra lệnh bắt bị can để tạm giam cho đến nay.

Ngày 26/11/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Ngang tiến hành thực nghiệm điều tra. Kết quả thực nghiệm phù hợp với lời khai bị can, bị hại và phù hợp với hiện trường, diễn biến vụ án.

Vật chứng của vụ án: Đã trả cho anh Thạch L nhận 01 điện thoại di động nhãn hiệu I phone 7 Plus, màu đỏ, bên ngoài có ốp lưng bằng nhựa trong suốt có viền màu đen và 01 cục sạc điện thoại di động màu trắng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Thạch L không yêu cầu bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số: 04/CT-VKS-HS, ngày 17/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, đã quyết định truy tố bị can Thạch U về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Thạch U khai nhận: Khoảng 02 giờ 15 phút, ngày 16/11/2019, tại Khoa sản phòng số 07 của Bệnh viện Đa khoa Khu vực huyện Cầu Ngang, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I phone 7 Plus, màu đỏ; 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa trong suốt có viền màu đen; 01 cục sạc điện thoại di động màu trắng, là tài sản của anh Thạch L. Bị cáo thống nhất kết luận định giá tài sản số: 15/KL.HĐĐG, ngày 22/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cầu Ngang, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I phone 7 Plus, màu đỏ; 01ốp lưng bằng nhựa trong suốt có viền màu đen; 01cục sạc điện thoại di động màu trắng, có tổng trị giá là 10.521.000 đồng.

Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo khai là tự nguyện, đúng sự thật, không ai ép buộc, bị cáo thống nhất nội dung bản Cáo trạng, không có ý kiến bổ sung hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng, mà thống nhất với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa bị hại anh Thạch L trình bày: Điện thoại di động nhãn hiệu I phone 7 Plus, màu đỏ; 01 ốp lưng bằng nhựa trong suốt có viền màu đen; 01 cục sạc điện thoại di động màu trắng anh sạc pin tại trong phòng số 07 Khoa sản của Bệnh viện Đa khoa Khu vực Cầu Ngang đến khoảng 09 giờ, ngày 16/11/2019 thì phát hiện bị mất và trình báo Công an xử lý. Anh đã nhận lại tài sản bị mất, nay anh không yêu cầu gì thêm, về trách nhiệm hình sự anh xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên ông Hứa Văn Biên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Thạch U phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Thạch L đã nhận tài sản bị mất, nay không yêu cầu gì thêm nên không giải quyết. Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Quan điểm của Trợ giúp viên pháp lý bà Nguyễn Thị Hồng T bào chữa cho bị cáo Thạch U khẳng định bản Cáo trạng số: 04/CT-VKS-HS, ngày 17/01/2020 của Viện kiểm sát huyện Cầu Ngang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng. Trợ giúp viên pháp lý không bào chữa về tội danh và khung hình phạt mà chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bởi vì bị cáo là người dân tộc Khmer, có trình độ học vấn 3/12 nên hiểu biết pháp luật còn hạn chế, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình bị cáo neo đơn, cha mẹ đã chết, bị cáo sống một mình, bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đề nghị áp dụng điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt. Ngoài ra xem xét cho bị cáo được miễn nộp án phí.

Bị cáo Thạch U nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh L, bị cáo rất ăn năn, hối hận, bị cáo có tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Thạch U khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng mô tả, phù hợp với lời khai, biên bản hỏi cung của bị cáo khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào khoảng 02 giờ 15 phút, ngày 16/11/2019, tại phòng số 07 Khoa sản của Bệnh viện đa khoa khu vực huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, bị cáo đã thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản của anh Thạch L là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I phone 7 Plus, màu đỏ; 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa trong suốt có viền màu đen; 01 cục sạc điện thoại di động màu trắng. Căn cứ kết luận định giá tài sản số: 15/KL.HĐĐG, ngày 22/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cầu Ngang, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I phone 7 Plus, màu đỏ; 01 ốp lưng bằng nhựa trong suốt có viền màu đen; 01 cục sạc điện thoại di động màu trắng, có tổng trị giá là 10.521.000 đồng.

Từ đó có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Thạch U phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi vì tài sản hợp pháp của công dân là quyền bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm tài sản của người khác mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu là vi phạm pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, có sức khỏe để tham gia lao động tạo ra của cải vật chất để nuôi sống bản thân và giúp ích cho gia đình, nhưng bị cáo không làm được việc này vì muốn có chiếc điện thoại di động để sử dụng, bị cáo đã lợi dụng thời gian đêm tối khoảng 02 giờ 15 phút, ngày 16/11/2019, bị hại và những người có mặt tại phòng số 07 của Khoa sản thuộc Bệnh viện Đa khoa Khu vực Cầu Ngang đã ngủ, bị cáo lén lút, đi vào phòng trộm chiếc điện thoại của anh Thạch L đang cắm sạc pin rồi tẩu thoát ra ngoài, đã dẫn bị cáo đến con đường phạm tội.

Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm đã hoàn thành, hậu quả đã xảy ra, bị cáo trộm cắp tài sản của bị hại mục đích để sử dụng là hành vi đáng lên án, gây ra sự bất bình trong quần chúng nhân dân. Nhân thân bị cáo có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo không biết khắc phục sửa chữa hành vi sai trái của mình để trở thành người công dân tốt mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới nhưng chưa được xóa án tích được xác định là tình tiết tái phạm. Mặt khác trong thời gian gần đây, hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Cầu Ngang xảy ra khá phổ biến, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương, làm cho quần chúng không an tâm lao động, gây ra dư luận không tốt trong đời sống xã hội. Do đó cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tù nhất định, tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 25 của Bộ luật hình sự.

- Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự sẽ được áp dụng khi quyết định hình phạt.

. Về trách nhiệm dân sự: Anh Thạch L là bị hại trong vụ án đã nhận lại tài sản bị mất trộm. Tại phiên tòa anh L không đặt ra yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm. Hội đồng xét xử không xem xét.

. Xét lời bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Thị Hồng T bào chữa cho bị cáo trình bày nêu trên là một phần có căn cứ; Trợ giúp viên đề nghị áp dụng điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật hình sự và miễn án phí cho bị cáo là không có cở sở nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bởi lẽ tài sản bị cáo chiếm đoạt có trị giá 10.521000 đồng là tài sản có giá trị lớn, khi bị cáo lén lút lấy trộm tài sản của anh Luộm, là thiệt hại đã xảy ra, do bị cáo chiếm đoạt, bị cáo nộp lại chiếc điện thoại là do cơ quan truy xét, chứ bị cáo không tự nguyện, tự thú nộp.

. Xét trình bày luận tội của Kiểm sát viên trình bày về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm nêu trên là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Thạch U nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Thạch U phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Thạch U 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 24 tháng 11 năm 2019.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Thạch U nộp 200.000 đồng án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06; Điều 07 và Điều 09 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ