vanban.org

Bản án 04/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 18/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố b cáo Bùi Quốc T phạm tội “Trộm c p tài sản”.

Xử phạt b cáo Bùi Quốc T 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng. Thời hạn thử thách tính t ngày tuyên án. Giao b cáo cho U ban nhân dân xã Hưng Hòa, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục b cáo trong thời gian thử thách. Trong trường … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố b cáo Bùi Quốc T phạm tội “Trộm c p tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2020/HS-ST
Ngày: 18-3-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Thành C ng;

Ông La Văn Châu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tr n Th Diễm Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Thái Hoàng Giang - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12 và 18 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm c ng khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2020 theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 09/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 2 năm 2020, đối với b cáo:

Bùi Quốc T, sinh năm 1994 tại Bình Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp 3, xã Hưng Hòa, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: kh ng; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; t n giáo: kh ng; quốc t ch Việt Nam; con ng Bùi Văn Khoa và bà Đinh Th Tuyết Nhung; tiền án: kh ng; tiền sự: ngày 09 tháng 8 năm 2019, b C ng an xã Hưng Hòa xử phạt b cáo hành vi trộm c p tài sản; b cáo b áp dụng biện pháp ngăn ch n cấm đi kh i nơi cứ trú, có m t.

- B h i: C ng ty C ph n cao su Phước Hòa; đ a chỉ: ấp 2A, xã Phước Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Ng i đ i di n h p pháp của b h i: Ông Tr n Văn Nh n, sinh năm 1968; nơi cư trú: phường Tân Đ nh, th xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương là người đại diện ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 09 tháng 3 năm 2020), v ng m t (có đơn xin v ng m t).

- Ng i làm chứng:

1. Ông Nguyễn Văn Cường, sinh năm 1989, v ng m t (có đơn xin v ng m t).

2. Ông Phan Trọng Linh, sinh năm 1989, v ng m t (có đơn xin v ng m t).

3. Ông Dương Đức Huy, sinh năm 1996, v ng m t (có đơn xin v ng m t).

4. Ông Nguyễn Nam Thọ, sinh năm 1971, v ng m t (có đơn xin v ng m t).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Bùi Quốc T là đối tượng kh ng nghề nghiệp sống tại xã Hưng Hòa, huyện Bàu Bàng. Ngày 12 tháng 8 năm 2019, T b C ng an xã Hưng Hòa xử phạt vi phạm hành vi trộm c p tài sản. Do kh ng có tiền tiêu xài, khoảng 16 giờ ngày 20 tháng 8 năm 2019, T nảy sinh ý đ nh trộm mủ cao su tại N ng trường cao su Hưng Hòa thuộc C ng ty C ph n cao su Phước Hòa để bán kiếm tiền tiêu xài. T đi bộ ra tiệm tạp hóa chợ Hưng Hòa mua 200g túi ni l ng chứa được khoảng 6 kg hết 10.000 đồng, 01 bao ni l ng chứa khoảng 80kg hết 8.000 đồng. Sau đó, T c m nh ng vật đã chuẩn b đi đến l cao su 27, T nh t được 01 v bao ni l ng loại chứa được 80kg, ngoài v bao có ch đạm Phú M và 01 sợi dây đen, T lấy v bao đạm Phú M và các vật dụng chuẩn b giấu vào một cái hố trong l cao su, T lấy 08 bao ni l ng loại 6kg đi trút trộm mủ, m i l n đ y thì T đem đến hố đ vào bao lớn đã chuẩn b . Sau khi trút được khoảng 207 cây cao su thì T dùng dây buộc bao ni l ng bên ngoài có bao đạm Phú M lại để đi trút tiếp thì b lực lượng bảo vệ N ng trường cao su Hưng Hòa phát hiện b t gi và đưa về C ng an xã Hưng Hòa giải quyết. Vụ việc được chuyển đến C ng an huyện Bàu Bàng để điều tra xử lý theo thẩm quyền. Qua làm việc, T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình cùng tang vật.

Theo kết luận đ nh giá tài sản ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Hội đồng đ nh giá trong tố tụng hình sự của huyện Bàu Bàng kết luận: 48 kg mủ nước, hàm lượng 37,11 độ, giá 247 đồng/độ; t ng giá tr 48 kg là 439.976 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát gi quyền c ng tố tại phiên tòa gi nguyên quan điểm truy tố hành vi của b cáo đủ yêu tố cấu thành tội “Trộm c p tài sản”.

B cáo kh ng có ý kiến gì tranh luận.

B hại v ng m t kh ng ghi nhận ý kiến tranh luận.

Vật chứng vụ án gồm: 01 bao ni l ng bên trong có mủ cao su, bên ngoài v có ch đạm Phú M màu tr ng, t ng trọng lượng là 49kg, tr 01 kg bao bì trọng lượng thực là 48 kg mủ cao su (mủ nước), Cơ quan điều tra C ng an huyện Bàu Bàng trả lại cho người đại diện của b hại, người đại diện của b hại kh ng có yêu c u gì.

Bản cáo trạng số 03/CT-VKSBB ngày 13 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố b cáo Bùi Quốc T về tội “Trộm c p tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đ i b sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề ngh Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đ i b sung năm 2017, xử phạt b cáo Bùi Quốc T t 08 (tám) đến 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng đến 20 (hai mươi) tháng.

Về xử lý vật chứng: đã giải quyết xong.

B hại v ng m t tại phiên tòa nhưng đã có lời khai đ y đủ tại hồ sơ vụ án và kh ng yêu c u bồi thường. B hại kh ng có ý kiến gì về cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng.

B cáo T nói lời sau cùng: hành vi của b cáo là vi phạm pháp luật, b cáo rất hối hận, b cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để b cáo hưởng án treo về với gia đình để làm người tốt cho xã hội.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đ y đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, b cáo và nh ng người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

Về hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan điều tra C ng an huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, b cáo và b hại kh ng ai có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, b cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi trộm c p tài sản như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai của b cáo phù hợp với lời khai của b hại và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án về thời gian, đ a điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội cũng như tài sản b trộm. Do vậy, đã có đủ cơ sở xác đ nh: ngày 20 tháng 8 năm 2019, b cáo T lén lút vào N ng trường cao su Hưng Hòa thuộc C ng ty C ph n cao su Phước Hòa trộm mủ cao su tr giá 439.976 đồng, b cáo có một tiền sự về hành vi trộm c p tài sản vào ngày 12 tháng 8 năm 2019. Theo quy đ nh tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đ i, b sung năm 2017. Hành vi lén lút lấy trộm tài sản của b cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm c p tài sản. B cáo có đủ năng lực ch u trách nhiệm hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố b cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét hành vi của b cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở h u tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự tr an tại đ a phương. B cáo nhận thức rõ hành vi trộm c p tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ b xử lý nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi nên b cáo đã cố ý phạm tội. Như vậy, c n xử phạt b cáo mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội, đủ để giáo dục răn đe b cáo và phòng ng a chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: kh ng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa, b cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy đ nh tại các điểm h, s khoản 1 khoản Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đ i, b sung năm 2017. Xét b cáo có hai tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, tài sản b cáo chiếm đoạt đã giao trả cho b hại, b cáo có nơi cư trú rõ ràng, nên Hội đồng xét xử xét thấy kh ng c n phải b t b cáo chấp hành hình phạt tù, mà b cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho b cáo hưởng án treo kh ng gây nguy hiểm cho xã hội; kh ng ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đ i, b sung năm 2017 và Ngh quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hội đồng xét xử sẽ áp dụng cho b cáo được hưởng án treo.

Mức hình phạt theo đề ngh của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà đối với b cáo là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của b cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: 01 bao ni l ng bên trong có mủ cao su, bên ngoài v có ch đạm Phú M màu tr ng, t ng trọng lượng là 49kg đã trả lại cho b hại là phù hợp quy đ nh của pháp luật, b hại kh ng có yêu c u gì, nên Hội đồng xét xử kh ng xem xét.

Về án phí: b cáo phải ch u án phí hình sự sơ thẩm theo quy đ nh của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đ i, b sung năm 2017;

Căn cứ vào Ngh quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố b cáo Bùi Quốc T phạm tội “Trộm c p tài sản”.

Xử phạt b cáo Bùi Quốc T 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng. Thời hạn thử thách tính t ngày tuyên án. Giao b cáo cho U ban nhân dân xã Hưng Hòa, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục b cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp b cáo thay đ i nơi cư trú thì thực hiện theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, b cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 l n trở lên thì Tòa án có thể quyết đ nh buộc b cáo được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Buộc b cáo Bùi Quốc T phải ch u 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

B cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể t ngày tòa tuyên án.

B hại v ng m t tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể t ngày nhận được bản án ho c bản án được niêm yết theo quy đ nh.

Cỡ chữ