vanban.org

Bản án 04/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn là ông Lê Chánh T1.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với ông Lê Chánh T1. 2. Về con chung: Giao bà Nguyễn Thị Thu T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lê Chánh P, sinh ngày 10/12/2014.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà T yêu cầu ly hôn với ông T1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn là ông Lê Chánh T1.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 10-3-2020
V/v: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vọng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Hương

2. Bà Wòng Cảnh Mỹ Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Châu Thị Hoài Phương - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Lưu Kim Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân thành phố T mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 335/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2019 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2020/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1975; cư trú tại: Phường Định Hòa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Lê Chánh T1, sinh năm 1967; HKTT: Phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; hiện cư trú tại: Phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Theo đơn khởi kiện ngày 30 tháng 9 năm 2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T trình bày:

Bà T và ông Lê Chánh T1 quen biết, có thời gian tìm hiểu, được cha mẹ hai bên đồng ý nên đã tiến tới hôn nhân vào năm 2014; có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 30, quyển số 01/2014, ngày 05/5/2014. Từ khi kết hôn đến nay vợ chồng chỉ sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn mà nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, ông T1 không lo làm ăn, suốt ngày ghen tuông vô cớ, thường xuyên xúc phạm danh dự bà T và gia đình bà T. Năm 2016, bà T đã làm đơn xin ly hôn với ông T1 tại Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình giải quyết vụ án, ông T1 xin cho thời gian để thay đổi, nên ngày 12/01/2017 bà T đã rút đơn và Tòa án nhân dân quận T đã đình chỉ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, ông T1 không thay đổi mà mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mọi sự cố gắng của bà T đều không có kết quả. Ngoài ra, ông T1 còn thường xuyên đánh đập bà T và Công an phường Đ cũng đã xử phạt vi phạm hành chính đối với ông T1 vào ngày 09/4/2019.

Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông T1.

Về con chung: Bà T và ông T1 có 01 con chung là cháu Lê Chánh P, sinh ngày 10/12/2014. Hiện nay, cháu P đang sinh sống cùng với bà T, vì vậy khi ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu P, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2]. Bị đơn ông Lê Chánh T1 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tham gia hòa giải và tham dự phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do và cũng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông T1 được.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn ông Lê Chánh T1 vắng mặt không có lý do.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật, riêng bị đơn ông Lê Chánh T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không tham dự phiên tòa nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền theo quy định đối với những người tiến hành tố tụng. Do nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là đúng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục gì thêm.

+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và Gia đình, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật: Ngày 30 tháng 9 năm 2019, bà Nguyễn Thị Thu T có đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và tranh chấp về nuôi con với ông Lê Chánh T1 nên đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại Điều 51, Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[1.2]. Về thẩm quyền: Tại thời điểm thụ lý, bị đơn ông Lê Chánh T1 đang cư trú tại thành phố T, tỉnh Bình Dương nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.

[1.3]. Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T vắng, có đơn xin giải quyết vắng mặt; bị đơn ông Lê Chánh T1 vắng mặt không có lý do mặc dù đã được triệu tập đến tham dự phiên tòa lần thứ hai. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả các đương sự.

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Ngày 05/5/2014, bà T và ông T1 đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Việc chung sống và đăng ký kết hôn giữa bà T và ông T1 là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc nên đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên hôn nhân giữa bà T và ông T1 là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Quá trình chung sống, bà T xác định vợ chồng có nhiều mâu thuẫn mà nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, ông T1 suốt ngày ghen tuông vô cớ nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Năm 2016, bà T đã có đơn xin ly hôn, sau đó với mong muốn ông T1 sửa đổi khuyết điểm để gia đình đoàn tụ nên đã rút đơn, ngày 12/01/2017 Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đã đình chỉ giải quyết vụ án số 45/2017/QĐST-HNGĐ. Nhưng, sau khi đoàn tụ, ông T1 không sửa đổi mà mâu thuẫn ngày càng gay gắt, vợ chồng thường xuyên cãi vã, đánh đập nhau; ngày 09/4/2019 Công an phường Đ đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 37/QĐ-XPHC để xử phạt ông T1 về hành vi bạo lực gia đình với số tiền là 750.000 đồng.

Việc, bà T và ông T1 không còn quan tâm, thương yêu, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau và không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, thường xuyên cãi vã, đánh đập nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn nên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông T1 nhiều lần để Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng ông T1 vẫn cố tình vắng mặt, điều này chứng tỏ ông T1 không có thiện chí mong muốn gia đình được đoàn tụ.

Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định, hôn nhân giữa bà T và ông T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của bà T, cho bà T được ly hôn với ông T1.

[2.2]. Về con chung: Bà T và ông T1 có 01 con chung là cháu Lê Chánh P, sinh ngày 10/12/2014. Khi ly hôn, bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung; còn ông T1 không đến Tòa án làm việc nên không xác định được mong muốn và nguyện vọng của ông T1 là như thế nào về con chung. Hơn nữa, hiện nay cháu P vẫn đang sinh sống cùng bà T, vì vậy để cháu P có điều kiện phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội, cần giao cháu P cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp nên yêu cầu của bà T về phần con chung được chấp nhận.

[2.3]. Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[2.4]. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[3]. Tại Tòa, quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố T là có cơ sở.

[4]. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bà T phải chịu 300.000 đồng; ông T1 không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 238, 266, 267, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn là ông Lê Chánh T1.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với ông Lê Chánh T1.

1.2. Về con chung: Giao bà Nguyễn Thị Thu T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lê Chánh P, sinh ngày 10/12/2014.

1.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét giải quyết.

1.4. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai có quyền cấm đoán, ngăn cản. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên có quyền yêu cầu mức cấp dưỡng, xin thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu có căn cứ cho rằng bên kia không đáp ứng được quyền lợi của con.

1.5. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thu T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Thu T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0041148 ngày 10/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương.

3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ