- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Chí Kiên-Nguyễn Ngọc Trân"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Chí K với chị Nguyễn Ngọc T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/HNGĐ-ST Ngày 17-01-2020 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Hận
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trịnh Hữu Hiệp
Ông Đoàn Quốc Thống
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
Ngày 17 tháng 01 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện U Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 338/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2020/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Chí K, sinh năm 1991 (có mặt)
Địa chỉ cư trú: Số 42/16, đường Trần Quang Khải, phường 2, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp 5, xã Khánh An, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 29 tháng 11 năm 2019 và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Chí K trình bày: Anh và chị Nguyễn Ngọc T tổ chức đám cưới và chung sống với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh An, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, nên anh với chị T đã sống ly thân khoảng 02 năm nay. Nay anh xét thấy cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T; Về con chung anh với chị T có 01 người con chung tên Nguyễn Hoàng Hải Đ, sinh ngày 09/3/2017, hiện người con chung do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn đồng ý giao chị T trực tiếp nuôi dưỡng; Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với chị Nguyễn Ngọc T, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng để tham gia hòa giải, xét xử nhưng chị T vắng mặt không rõ lý do và không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của anh K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tố tụng:
Anh Nguyễn Chí K khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Ngọc T là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa chị T vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T.
. Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh K và chị T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh An, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau vào ngày 18/10/2016 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Anh K yêu cầu ly hôn với chị T vì vợ chồng chung sống thường xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, dẫn đến cuộc sống không hạnh phúc và vợ chồng đã sống ly thân khoảng 02 năm nay. Đối với chị T, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và triệu tập hợp lệ chị T nhiều lần đề tham gia hòa giải và xét xử nhưng chị T vắng mặt không tham gia hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng và không có ý kiến đối với yêu cầu của anh K. Điều này cho thấy tình trạng hôn nhân giữa anh K với chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh K về việc xin ly hôn với chị T.
Về con chung: Anh K đồng ý giao người con chung tên Nguyễn Hoàng Hải Đ cho chị T tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, từ khi anh K với chị T sống ly thân đến nay thì người con chung tên Nguyễn Hoàng Hải Đ đang sống chung với chị T. Do đó, để đảm bảo về tình cảm, tâm sinh lý và điều kiện học tập của cháu Hải Đăng, nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao người con chung tên Nguyễn Hoàng Hải Đ cho chị T tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị T không có yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh K xác định không có, chị T không có ý kiến đối với tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp sau này có xảy ra tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác.
Về án phí: Anh K phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 53, 56, 57, 58 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Chí K với chị Nguyễn Ngọc T.
2. Về con chung: Giao người con chung tên Nguyễn Hoàng Hải Đ, sinh ngày 09/3/2017 cho chị Nguyễn Ngọc T tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng. Anh K có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm anh Nguyễn Chí K phải nộp 300.000 đồng, anh K đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004691, ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh được chuyển thu án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm, anh Nguyễn Chí K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Ngọc T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện U Minh, tỉnh Cà Mau; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Nơi thực hiện việc kết hôn; - Lưu hồ sơ, văn thư. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoài Hận |