- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn và nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Minh M về việc ly hôn với anh Lê Văn B.
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/HNGĐ-ST Ngày 15-01-2020 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Việt Thắng
2. Ông Huỳnh Văn Năm
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thêu - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 15 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 742/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 440/2019/QĐXX-ST ngày 23 tháng 12 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Minh M, sinh năm 1983 (có mặt).
2. Bị đơn: Anh Lê Văn B, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khóm 4, thị t, huyện T, tỉnh Cà Mau
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 11/11/2019, nguyên đơn chị Võ Thị Minh M trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Võ Thị Minh M và anh Lê Văn B chung sống với nhau từ năm 2004, hôn nhân tự nguyện; có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (theo giấy chứng nhận kết hôn số 133 ngày 15/6/2004). Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng hay cự cải với nhau, bất đồng quan điểm, chị và anh B đã ly thân hơn 01 năm nay. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, chị xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh B.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống chị M và anh B có 02 người con tên Lê Thị Thúy H, sinh ngày 21/8/2004 và Lê Hoàng D, sinh ngày 20/8/2015. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi các con. Không yêu cầu đặt ra cấp dưỡng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị M xác định không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Văn B: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh Lê Văn B vẫn vắng mặt tại tòa; không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn anh Lê Văn B có nơi cư trú tại khóm 4, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chị Võ Thị Minh M khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh Lê Văn B, tranh chấp về nuôi con. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; chị M là người khởi kiện nên xác định tư cách đương sự chị M là nguyên đơn, anh B là bị đơn được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chị M có mặt, anh B vắng mặt; căn cứ theo khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh B không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, anh chị đã vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị và anh B đã ly thân hơn 01 năm nay.
Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, cho chị M được ly hôn với anh B.
Về con chung: Chị M và anh B có 02 người con tên Lê Thị Thúy H, sinh ngày 21/8/2004 và Lê Hoàng D, sinh ngày 20/8/2015. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi các con. Không yêu cầu đặt ra cấp dưỡng.
Xét, con chung tên Lê Thị Thúy H và Lê Hoàng D. Hiện các cháu sống chung với chị, gần gũi với chị, ổn định về thời gian, phát triển tốt về mọi mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tiếp tục giao các cháu Lê Thị Thúy H và Lê Hoàng D cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, phù hợp với ước nguyện của cháu H theo biên bản ghi nhận ý kiến ngày 23/12/2019. Anh B không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.
Về cấp dưỡng: Chị M không đặt ra, anh B không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ: Chị M xác định không có; nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị M phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 và khoản 3 Điều 68; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Khoản 1 Điều 9; Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Minh M về việc ly hôn với anh Lê Văn B.
Về con chung: Tiếp tục giao các cháu Lê Thị Thúy H, sinh ngày 21/8/2004 và Lê Hoàng D, sinh ngày 20/8/2015 cho chị Võ Thị Minh M được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh B không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.
2. Về án phí: Chị Võ Thị Minh M phải nộp số tiền 300.000 đồng; ngày 29/11/2019 chị M đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002893 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí.
3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân H. Trần Văn Thời; - Chi cục THADS H. Trần Văn Thời; - Cơ quan đã đăng ký việc kết hôn; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Chí Công |