- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thị Kiều O
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/HNGĐ-ST Ngày 20/02/2020 Về việc: “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Thế Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Tiến Tịnh, ông Nguyễn Đình Tân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Kim Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: ông Phạm Văn Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 225/2019/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2019 về việc Xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXX-ST ngày 06 tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:
*/ Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kiều O, sinh năm 1990; Địa chỉ: thôn XH, xã ĐM, huyện M, tỉnh Đắk Nông. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
*/ Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1987; Địa chỉ: thôn XH, xã ĐM, huyện M, tỉnh Đắk Nông. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 15/10/2019, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lê Thị Kiều O trình bày: Vào ngày 04 tháng 3 năm 2016 chị Lê Thị Kiều O, anh Trần Văn H đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã ĐM, huyện M, tỉnh Đắk Nông. Hôn nhân tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm, cách sống, hay cãi nhau vì những việc nhỏ nhặt trong gia đình, anh H ghen tuông, nhậu nhẹt say sỉn về thì chửi bới vợ con. Do đó, anh, chị đã ly thân với nhau từ 06/2019 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vậy nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn H.
Về con chung: Trong quá trình chung sống anh, chị có 02 con chung là cháu Trần Lê Huệ L, sinh ngày 29/11/2015 và cháu Trần Linh Đ, sinh ngày 02/02/2017. Khi ly hôn chị xin được nuôi dưỡng 02 cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh Trần Văn H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ: chị Lê Thị Kiều O không yêu cầu Tòa án giải quyết; công nợ chung không có.
- Đối với bị đơn anh Trần Văn H: trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; các giấy triệu tập và thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với anh Trần Văn H nhưng anh Trần Văn H vẫn không tham gia các buổi làm việc tại Tòa án. Hiện tại anh Trần Văn H có mặt tại địa phương nhưng anh Trần Văn H cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng trong tất cả các lần triệu tập của Tòa án. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil tiến hành mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt bị đơn đối với anh Trần Văn H.
Tại biên bản xác minh ngày 23/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil: Về nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Lê Thị Kiều O và anh Trần Văn H thì chính quyền địa phương không biết vì khi xảy ra mâu thuẫn thì anh, chị không thông báo với chính quyền địa phương để hòa giải.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà xác định việc tuân thủ theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chị Lê Thị Kiều O đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trần Văn H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Kiều O. Chị Lê Thị Kiều O được ly hôn với anh Trần Văn H; Về con chung: Giao cháu Trần Lê Huệ L, sinh ngày 29/11/2015 và cháu Trần Linh Đ, sinh ngày 02/02/2017 cho chị Lê Thị Kiều O trực tiếp, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành; Về tài sản và công nợ: Không có; Về án phí: chị Lê Thị Kiều O phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Chị Lê Thị Kiều O yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn H, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình (ly hôn) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Trần Văn H có địa chỉ cư trú tại thôn XH, xã ĐM, huyện M, tỉnh Đắk Nông. Nên Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil thụ lý là đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Lê Thị Kiều O có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Trần Văn H đã được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng nhưng anh Trần Văn H vắng mặt không có lý do chính đáng gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Mặt khác sự vắng mặt của anh Trần Văn H đã không cung cấp được cho Tòa án chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình và phản bác lại đối với yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy, theo quy định tại khoản 4 Điều 91 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, anh Trần Văn H phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình và Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil tiến hành mở phiên tòa để xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp theo quy định của pháp luật.
*/ Về pháp luật nội dung:
Về hôn nhân: Chị Lê Thị Kiều O và anh Trần Văn H đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã ĐM, huyện M, tỉnh Đắk Nông theo giấy chứng nhận kết hôn số 14, ngày 04/3/2016. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, quá trình chung sống hai bên xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn và đã ly thân với nhau từ tháng 06/2019 nên không còn khả năng đoàn tụ. Trong quá trìnhlàm việc tại Tòa án, chị Lê Thị Kiều O thừa nhận chị không còn tình cảm với anh Trần Văn H, không muốn tiếp tục chung sống với nhau nữa và muốn được ly hôn để ổn định cuộc sống vì hôn nhân vợ chồng không đạt được mục đích.
Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn phát sinh từ lâu nhưng cả hai không tìm ra được giải pháp khắc phục. Anh, chị đã không còn tin tưởng, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, không có khả năng đoàn tụ, hôn nhân của anh, chị thật sự không đạt được mục đích. Do vậy, Hội đồng xét xử nghĩ cần căn cứ vào Điều 51; Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lê Thị Kiều O và giải quyết cho chị Lê Thị Kiều O được ly hôn với anh Trần Văn H.
Về con chung: Do anh Trần Văn H không tới Tòa án làm việc nên cũng không biết được quan điểm của anh Trần Văn H về việc nuôi con chung, bên cạnh đó hai cháu Trần Lê Huệ L, Trần Linh Đ còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ, bên cạnh đó thu nhập hàng tháng của chị Lê Thị Kiều O giao động từ 8 triệu đến 10 triệu cũng đủ để nuôi các cháu. Chính vì vậy cần giao cháu Trần Lê Huệ L, sinh ngày 29/11/2015 và cháu Trần Linh Đ, sinh ngày 02/02/2017 cho chị Lê Thị Kiều O trực tiếp, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Anh Trần Văn H được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, chị Lê Thị Kiều O không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Lê Thị Kiều O phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tại phiên toà là có căn cứ, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thị Kiều O
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Kiều O được ly hôn với anh Trần Văn H.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Lê Huệ L, sinh ngày 29/11/2015 và cháu Trần Linh Đ, sinh ngày 02/02/2017 cho chị Lê Thị Kiều O chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Anh Trần Văn H được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, chị Lê Thị Kiều O không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục con chung.
Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật HNGĐ năm 2014.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; yêu cầu cấp dưỡng, thay đổi mức cấp dưỡng, chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định các Điều 84; Điều 110; Điều 117; Điều 118 và Điều 119 Luật HNGĐ năm 2014.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Kiều O phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001797 ngày 06/11/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Đắk Nông.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐắkNông; - VKSND huyện Đắk Mil; - Chi cục THADS huyện M; - UBND xã ĐM, huyện M; - Các đương sự; - Lưu HS. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thế Hạnh |