- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Thị T và Dương Tiến H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Ngô Thị T được ly hôn với anh Dương Tiến H.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/HNGĐ-ST Ngày 08-5-2020 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét sử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Dương Công Thịnh
Ông Dương Công Khoan
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Mai Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2019 về vụ xin ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXX-ST ngày 10 tháng 3 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2020/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2020/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị T, sinh năm 1990
Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Dương Tiến H, sinh năm 1992.
Nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Ngô Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị T kết hôn với anh Dương Tiến H vào cuối năm 2013, trước khi kết hôn được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, tình cảm vợ chồng thời gian đầu bình thường. Quá trình chung sống vợ chồng chị cùng nhau đi làm thuê tại huyện H, tỉnh Bắc Giang, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ tháng 6 năm 2014, nguyên nhân là do anh H có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác, hay chơi cờ bạc, lô đề không tu chí làm ăn. Việc mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng không cải thiện được. Vợ chồng chị chính thức ly thân, không còn chung sống cùng nhau từ tháng 6 năm 2017 đến nay, không ai còn quan tâm, hỏi thăm gì đến nhau. Hiện nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh H nữa, chị yêu cầu được ly hôn với anh H
Về con chung: Có 02 người con chung tên là Dương Ngô Anh P, sinh ngày 09/7/2014 và Dương Ngô Anh P1, sinh ngày 07/10/2016. Hiện nay các con đang ở với chị T, một mình chị tự nuôi cả hai con, từ ngày vợ chồng ly thân anh H không quan tâm, hỏi thăm gì đến các con. Vì vậy, khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi các con chung đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh tại Ban Công an xã C, huyện B, anh Dương Tiến H vẫn cư trú tại địa phương và đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tuy nhiên, anh Dương Tiến H vẫn không đến Tòa án tham gia tố tụng mà không có lý do.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, bị đơn anh Dương Tiến H không đến Tòa án tham gia vào quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Ngô Thị T có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên không tiến hành hòa giải được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các bước về trình tự, thủ tục tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo quy định tại Điều 48, 51 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án nguyên đơn chị Ngô Thị T đã chấp hành, thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự như: Thực hiện quyền khởi kiện; nộp các tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình; có mặt tham gia phiên tòa sơ thẩm. Bị đơn anh Dương Tiến H vắng mặt tại Tòa án mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, do vậy chưa chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Ngô Thị T. Về con chung: Giao 02 người con chung tên là Dương Ngô Anh P, sinh ngày 09/7/2014 và Dương Ngô Anh P1, sinh ngày 07/10/2016 cho chị Ngô Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các con đủ 18 tuổi, anh Dương Tiến H không phải cấp dưỡng nuôi con chung, anh Dương Tiến H có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con chung, không ai được cản trở. Về tài sản chung và nợ chung đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Ngô Thị T khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Vì vậy quan hệ pháp luật là "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Dương Tiến H có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã C, huyện B. Do đó, căn cứ Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, Thông báo mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.
Anh Dương Tiến H vắng mặt tại phiên tòa xét xử lần thứ ba không có lý do, mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Dương Tiến H là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Về tình cảm: Quan hệ hôn nhân giữa chị Ngô Thị T và anh Dương Tiến H là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang vào ngày 31/10/2013 nên quan hệ hôn nhân giữa chị Ngô Thị T và anh Dương Tiến H là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng không tin tưởng nhau, không có trách nhiệm với nhau trong cuộc sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2017 đến nay không còn quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống.
Xác định tình trạng hôn nhân giữa chị Ngô Thị T và anh Dương Tiến H thấy rằng: Anh Dương Tiến H không hợp tác với Tòa án trong quá trình giải quyết ly hôn và cũng không có ý kiến về việc chị Ngô Thị T có đơn xin ly hôn với anh. Như vậy tình trạng hôn nhân giữa chị Ngô Thị T và anh Dương Tiến H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Ngô Thị T yêu cầu ly hôn với anh Dương Tiến H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Ngô Thị T là có căn cứ, cần chấp nhận.
Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Dương Tiến H không tham gia. Hội đồng xét xử thấy rằng anh Dương Tiến H tự từ bỏ quyền lợi của mình về con chung. Xét yêu cầu của chị Ngô Thị T về việc được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung tên là Dương Ngô Anh P, sinh ngày 09/7/2014 và Dương Ngô Anh P1, sinh ngày 07/10/2016 đến khi đủ 18 tuổi là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 58, 81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận. Do chị Ngô Thị T không yêu cầu anh Dương Tiến H phải cấp dưỡng nuôi con nên anh Dương Tiến H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Chị Ngô Thị T trình bày là không có, quá trình giải quyết vụ án anh Dương Tiến H vắng mặt, không có ý kiến gì. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Ngô Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 56; Điều 57, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Ngô Thị T được ly hôn với anh Dương Tiến H.
2. Về con chung: Giao các con chung tên là Dương Ngô Anh P, sinh ngày 09/7/2014 và Dương Ngô Anh P1, sinh ngày 07/10/2016 cho chị Ngô Thị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng T (đủ 18 tuổi). Anh Dương Tiến H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Dương Tiến H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết
4 Về án phí: Chị Ngô Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước. Xác nhận chị Ngô Thị T đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2015/0000249 ngày 05/12/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
5 Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Ngô Thị T có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Dương Tiến H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục THADS huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - UBND xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dƣơng Thị Ngọc |