- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Vàng Văn P ly hôn chị Tải Thị Thu H (mất tích)"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Vàng Văn P, xử cho anh Vàng Văn P được ly hôn chị Tải Thị Thu H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/HNGĐ-ST Ngày 08 tháng 4 năm 2020 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG -TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Diện.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sền Quang Thảo và ông Hoàng Trường Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Ngọc Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Vũ Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, Tòa án nhân dân huyện Mường Khương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2019/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 12 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 23 tháng 3 năm 2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Vàng Văn P; Sinh năm 1977.
Địa chỉ: Tổ dân phố M, thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Chị Tải Thị Thu H; Sinh năm 1981.
Địa chỉ: Tổ dân phố M, thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, vắng mặt (đã bị Tòa án tuyên bố mất tích).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 12 năm 2019 và bản tự khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Vàng Văn P trình bày:
Anh và chị Tải Thị Thu H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai theo quy định của pháp luật. Sau khi chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên đến năm 2004, chị H bỏ nhà đi khỏi địa phương, đi đâu, làm gì anh không biết. Anh và gia đình đã đi tìm chị H nhưng không có kết quả. Năm 2019, anh P đã đề nghị Tòa án tuyên bố chị H mất tích. Từ khi Tòa án tuyên bố chị H mất tích đến nay chị H cũng không về nhà, không có tin tức gì. Để ổn định cuộc sống, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng anh có 01 người con chung là cháu Vàng Thị X, sinh ngày 05 tháng 4 năm 2003. Khi ly hôn anh P đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được tiếp tục nuôi cháu, anh không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Anh Vàng Văn P không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Mường Khương đã tiến hành niêm yết thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng cho chị Tải Thị Thu H theo quy định của pháp luật nhưng chị H đều không có mặt.
Tại phiên tòa, anh Vàng Văn P vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, anh đề nghị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện sát nhân dân huyện Mường Khương đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 56; Điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b, khoản 2 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1, 2 Điều 227, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho anh Vàng Văn P được ly hôn chị Tải Thị Thu H. Về con chung: Giao cháu Vàng Thị X cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Ngoài ra tuyên án phí, quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Anh Vàng Văn P khởi kiện xin ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con chung với chị Tải Thị Thu H nên xác định đây là vụ án về Hôn nhân và gia đình. Chị H đăng ký hộ khẩu tại tổ dân phố M, thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai nên vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mường Khương quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b, khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Vàng Văn P vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn chị Tải Thị Thu H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ khoản 1, 2 Điều 227, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[2]Về quan hệ hôn nhân:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định: Anh Vàng Văn P và chị Tải Thị Thu H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2003, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai theo quy định của pháp luật (Trích lục kết hôn số: 01/TLKH-BS, ngày 04 tháng 6 năm 2019 của Ủy ban nhân dân thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai). Năm 2004, chị H bỏ nhà đi khỏi địa phương, không biết đi đâu, làm gì. Tháng 6 năm 2019, anh P có đơn yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mường Khương tuyên bố chị H mất tích. Tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2019/QĐST-DS, ngày 12/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Mường Khương đã tuyên bố chị Tải Thị Thu H mất tích. Ngày 21/02/2020, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi anh P, chị H cư trú được biết: Từ khi Tòa án tuyên bố mất tích đến nay chị H không trở về địa phương, cũng không có tin tức gì. Vì vậy yêu cầu của anh P xin ly hôn với chị H là có căn cứ, phù hợp với pháp luật. Quan hệ hôn nhân giữa anh P và chị H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống anh P và chị H có 01 con chung là cháu Vàng Thị X, sinh ngày 05 tháng 4 năm 2003 hiện nay đang sống cùng anh P. Anh P có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu X cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy kể từ khi chị H bỏ nhà đi khỏi địa phương, cháu X ở cùng anh P, do anh P nuôi dưỡng. Vì vậy để cuộc sống của cháu được ổn định, cần giao cháu X cho anh P được nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của cháu Vàng Thị X.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Do nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Anh Vàng Văn P phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 2 Điều 56; Điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b, khoản 2 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1, 2 Điều 227, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Vàng Văn P, xử cho anh Vàng Văn P được ly hôn chị Tải Thị Thu H.
2. Về con chung: Giao cháu Vàng Thị X, sinh ngày 05 tháng 4 năm 2003 cho anh Vàng Văn P trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh Vàng Văn P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn. Xác nhận anh P đã nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số AB/2012/0007994, ngày 24 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Lào Cai; -VKSND huyện MK, VKSND tỉnh Lào Cai; -Chi cục THADS huyện Mường Khương; -Các đương sự; -UBND thị trấn Mường Khương; -Lưu HS, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Hồng Diện |