vanban.org

Bản án 04/2020/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 12/03/2020 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/03/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ăn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 300, khoản 2 Điều 308 của ộ luật Tố tụng dân sự;

ăn cứ vào Điều 59, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; ăn cứ vào điểm a, b khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27, khoản 5 Điều 29 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 Ngy 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị Ng và Trân Trung D tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung và chia tài sản chung khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? ăn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 300, khoản 2 Điều 308 của ộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2020/HNGĐ-PT
Ngy 12-3-2020
Về Ly hôn, tranh chấp nuôi con,
chia tài sản khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦNGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: à Đ ng H Đi p

ác Th m phán:

à Nguyễn Thị Thu Thủy

à Trần Thị Vân Thúy

- Thư ký phiên toà: à Nguyễn Thu Trang - Thư ký Toà án nhân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: à Đào Thị Hu - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngy 12 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc th m công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 34/TLPT- HNGĐ Ngy 10 tháng 02 năm 2020 về vi c “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”.

Do ản án hôn nhân và gia đình s th m số 43/2019/HNGĐ- T ngày 27 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng ị kháng cáo và kháng nghị.

Theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử phúc th m số 02/2020/QĐ PT-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2020, Quy t định hoãn phiên toà số 12/2020/QĐ-PT Ngy 26 tháng 02 năm 2020, gi a các đư ng sự:

1. Nguyên đ n: hị Đỗ Thị Ng; n i cư trú: ố 30/23/104 đường Đoạn á, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; vắng m t.

2. Bị đ n: Anh Trần Trung D; n i cư trú: ố 30/23/104 đường Đoạn á, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; vắng m t.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Văn Lân và à Trần Thị Thìn, cùng n i cư trú: Thôn Thanh Lãng, xã Minh Hòa, huy n Hưng Hà, tỉnh Thái ình; vắng m t.

4. Người kháng cáo: Anh Trần Trung D là ị đ n.

5. Vi n kiểm sát kháng nghị: Vi n trưởng Vi n Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đỗ Thị Ng trình bày:

Chị và anh Trần Trung D k t hôn tự nguy n và có đăng ký k t hôn tại Ủy an nhân dân xã H ng Minh, huy n Hưng Hà, tỉnh Thái ình vào Ngy 03 tháng 9 năm 2011.

Sau khi k t hôn vợ ch ng chung sống hòa thuận đ n năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh D không chung thủy có quan h với người phụ n khác và đã có con riêng tên là Lê Vi, sinh năm 2015. Tình cảm vợ ch ng Ngy càng lạnh nhạt, mâu thuẫn Ngy càng trầm trọng. Năm 2017 anh chị đã nộp đ n ra Tòa án quận Ngô Quyền xin ly hôn nhưng được Tòa án hòa giải vợ ch ng về đoàn tụ xong không có k t quả. Vợ ch ng ly thân từ đó cho đ n nay không liên quan nhau về tình cảm cũng như kinh t . Đ n nay chị xác định tình cảm vợ ch ng không còn, yêu cầu Tòa án giải quy t cho chị được ly hôn với anh D.

Về con chung: Chị Ng và anh D có 01 con chung là Trần Ngọc Diễm Vi, sinh Ngy 29 tháng 10 năm 2014. N u được ly hôn chị Ng có nguy n vọng nuôi con và yêu cầu anh D có trách nhi m cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đ ng/tháng.

Về tài sản chung và công nợ: Chị Ng và anh D có 01 căn nhà di n tích 46m2, xây 03 tầng kiên cố, tổng di n tích sử dụng là 138m2 tại địa chỉ số 30/23/104 đường Đoạn á, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Trong thời gian hôn nhân, hai vợ ch ng có vay tiền của bố mẹ chị Ng là ông Đỗ Văn Lân và à Trần Thị Thìn số tiền là 100.000.000 đ ng, có giấy tờ vay nợ. Ngoài ra hai vợ ch ng có vay của ông Trần Đình Đạo số tiền 50.000.000 đ ng và vay của ông Đỗ Gia Bảo 50.000.000 đ ng, nh ng khoản vay này không có giấy tờ. Quan điểm của chị Ng là tài sản chung và công nợ chia đôi theo quy định pháp luật trên c sở đánh giá y u tố lỗi của anh D. Chị Ng có nguy n vọng được lấy nhà để ở cùng con và có trách nhi m trả tiền cho anh D trên c sở phán quy t của Tòa.

Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án anh Trần Trung D trình bày: Anh D và chị Ng lấy nhau trên c sở tự nguy n được hai ên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán Vi t Nam và có làm thủ tục đăng ký k t hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống vợ ch ng hạnh phúc đ n năm 2016 vợ ch ng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do cô Ng có quan h với người đàn ông khác dẫn đ n tình cảm vợ ch ng lạnh nhạt và vợ ch ng ly thân nhau từ năm 2016 đ n nay không liên quan đ n nhau về tình cảm cũng như kinh t . Bản thân anh chị đã nộp đ n và giải quy t ly hôn vào năm 2017 tại Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền sau đó vợ ch ng rút đ n. Nay anh D xác định tình cảm vợ ch ng không còn, yêu cầu được ly hôn chị Ng.

Về con chung: Anh D và chị Ng có 01 con chung là Trần Ngọc Diễm Vi, sinh Ngy 29 tháng 10 năm 2014. Anh D đ ng ý giao con chung cho chị Ng nuôi và anh D có trách nhi m cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000 đ ng/tháng.

+ Về tài sản chung và công nợ:

Về tài sản chung: Anh D và chị Ng có 01 căn nhà di n tích 46m2, xây 03 tầng kiên cố, tổng di n tích sử dụng là 138m2 tại địa chỉ số 30/23/104 đường Đoạn á, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Anh yêu cầu Tòa án giải quy t theo quy định của pháp luật.

Về công nợ: Trong thời gian hôn nhân hai vợ ch ng có vay tiền của bố mẹ chị Ng là ông Đỗ Văn Lân và à Trần Thị Thìn, số tiền là 100.000.000 đ ng. anh D đ ng ý trả tiền gốc và tiền lãi 9,5%/năm từ thời điểm tháng 8 năm 2016 đ n thời điểm trả nợ. Ngoài ra vợ ch ng có nợ ông ty Trách nhi m h u hạn thư ng mại dich vụ vận tải on Đường Xanh (gọi tắt là ông ty TNHH TMDV VT on đường Xanh) số tiền khoảng 600.000.000 đ ng. Hi n anh D không có giấy tờ chứng minh và yêu cầu chị Ng phải cung cấp các giấy tờ để chứng minh khoản nợ trên.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn Lân và bà Trần Thị Thìn trình bày:

on gái của ông à là Đỗ Thị Ng lấy anh Trần Trung D trên c sở tự nguy n được hai ên gia đình tổ chức cưới hỏi và có làm thủ tục đăng ký k t hôn theo quy định của pháp luật và năm 2011. Vợ ch ng hạnh phúc được một thời gian đ n khoảng năm 2015 anh D có quan h với người phụ n khác dẫn đ n hai vợ ch ng thường xuyên mâu thuẫn. Năm 2014 vợ ch ng anh D, chị Ng xây nhà tại địa chỉ: Số 30/23/104 đường Đoạn á, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Anh D, chị Ng có vay của ông à 100.000.000 đ ng từ năm 2016 đ n nay chưa trả. N u vợ ch ng anh D chị Ng ly hôn và chia tài sản, ông à yêu cầu anh D, chị Ng phải trả cho ông à 100.000.000 đ ng và tiền lãi từ năm 2016 đ n nay.

Do anh D, chị Ng không thống nhất được giá trị căn nhà tại địa chỉ số 30/23/104 đường Đoạn á, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nên cùng chọn ông ty ổ phần tư vấn th m định giá Miền Bắc; địa chỉ trụ sở: Số 32 đường Trần Khánh Dư, phường Máy T , quận Ngô quyền, thành phố Hải Phòng để th m định giá căn nhà trên là tài sản chung của vợ ch ng.

Tại Chứng thư th m đinh giá vào thời điểm tháng 7 năm 2019 k t luận: Giá trị quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên thửa đất số 48, tờ bản đ số VM-29 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở h u nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sô U 262154, vào sổ cấp GCN số CH 11245 do UBND quận Ngô Quyền cấp Ngy 18 tháng 8 năm 2014 cho anh Trần Trung D và vợ là Đỗ Thị Ng; địa chỉ thửa đất: Số 30/23/104 đường Đoạn á, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Trên thực t tại thời điểm th m định: Giá trị quyền sử dụng đất ở di n tích 45,44 m2 là 458.000.000 đ ng; giá trị quyền sở h u nhà ở với di n tích sử dụng 112m2 là 480.000.000 đ ng; tổng cộng giá trị căn nhà là 938.000.000m2.

Về chi phí tố tụng: Theo Hợp đ ng th m định giá được ký gi a anh Trần Trung D và chị Đỗ Thị Ng với ông ty cổ phần tư vấn th m định giá Miền Bắc với giá trị là 6.600.000 đ ng.

Trước khi mở phiên tòa, vào Ngy 26 tháng 9 năm 2019 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền nhận được đ n đề nghị của chị Đào Thị Chi n Hải; chỗ ở: Số 155/60/161 đường Phư ng Lưu, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, trình ày: hị và anh Trần Trung D mở chung ông ty Thư ng mại - Dịch vụ - Vận tải on Đường Xanh từ năm 2013 do tin tưởng chị Ng là vợ anh D nên thống nhất giao cho chị Ng quản lý tài chính của ông ty. Lợi dụng quản lý tài chính của công ty chị Ng và anh D đã d n tiền để mua đất và xây nhà trong thời gian từ Ngy 23 tháng 7 năm 2013 đ n Ngy 31 tháng 12 năm 2016. Đ n nay chị Ng không áo được k t quả kinh doanh của công ty trước Hội đ ng thành viên trong thời gian chị Ng quản lý. Ngy 28 tháng 11 năm 2016, chị Ng lấy trộm séc của ông ty giả mạo ch ký của Giám đốc ra Ngân hàng rút 100.000.000 đ ng của ông ty on Đường anh. Vì vậy à Đào Thị Chi n Hải yêu cầu anh D và chị Ng cung cấp bằng chứng là văn ản về quá trình hoạt động của ông ty on Đường Xanh trong thời gian vợ ch ng anh D quản lý trước c quan có th m quyền và phải thanh toán phần lợi nhuận của à trong ông ty on Đường Xanh trong thời gian chị Ng quản lý tài chính; chị Hải có nguy n vọng nhờ chính quyền của quận Ngô Quyền kiểm tra, rà soát toàn ộ ch ký của tất cả các séc của công ty mà chị Ng đã rút tại Ngân hàng quân đội trong thời gian từ Ngy 23 tháng 7 năm 2013 đ n Ngy 31 tháng 12 năm 2016.

Tại phiên tòa s th m, chị Ng yêu cầu về tài sản chung và công nợ giải quy t theo quy định của pháp luật là chia đôi trên c sở đánh giá lỗi trong thời kỳ hôn nhân anh D có quan h với người phụ n khác và đã có con riêng đây cũng là nguyên nhân căn ản để vợ ch ng ly hôn. hị Ng có nguy n vọng được lấy nhà và thanh toán tiền cho anh D. Chị Ng thừa nhận vợ ch ng nợ 100.000.000 đ ng của bố mẹ chị là ông Đỗ Văn Lân và à Trần Thị Thìn, còn vi c nợ ông ty on Đường Xanh chị khẳng định vợ ch ng không nợ gì. Đối với khoản nợ vợ ch ng vay của ông Trần Đình Đạo số tiền 50.000.000 đ ng và vay của ông Đỗ Gia Bảo 50.000.000 đ ng không có giấy tờ được hai vợ ch ng ký đề nghị Tòa án giải quy t theo quy định pháp luật.

Bị đ n anh Trần Trung D vắng m t lần thứ hai không có lý do m c dù đã được tòa án tri u tập hợp l . Trước khi mở phiên tòa Ngy 26 tháng 9 năm 2019 anh D có đ n đề nghị gửi cho Tòa án, nội dung đ n thể hi n chị Ng đã rút và chuyển số tiền từ tài khoản cá nhân của anh D tại Ngân hàng Quân Đội sang tài khoản chị Ng, tự liên h với khách hàng chuyển tiền về tài khoản chị Ng và cầm 160.000.000 đ ng tiền m t anh D giao cho chị Ng với mục đích trả khoản nợ ên ngoại do chị Ng đứng ra vay để mua nhà nhưng chị Ng đã không trả nợ mà mang số tiền ấy đầu tư góp 300.000.000 đ ng vào mở ông ty TNHH Thư ng mại Logistics Đức Thịnh. Anh D yêu cầu chị Ng phải chuyển trả lại số tiền 300.000.000 đ ng đã mang đi góp vào ông ty Đức Thịnh; yêu cầu chị Ng in sao kê chi ti t sổ phụ tài khoản tại Ngân hàng Techcom ank và tại Ngân hàng Quân Đội tên tài khoản Đỗ Thị Ng; yêu cầu chị Ng hoàn trả lại anh D tất cả các khoản tiền mà chị Ng đã tự ý bắn từ tài khoản của anh D sang tài khoản chị Ng tại Ngân hàng Quân Đội; yêu cầu chị Ng hoàn trả lại số tiền mà chị Ng đã dùng thẻ ATM của anh D để rút tiền tại cây ATM của TK 253010276008. Chị Ng phải có trách nhi m cung cấp toàn ộ số tiền luân chuyển trong tài khoản mang tên chị Ng. Đây là vốn của anh D vay mượn để làm hàng và đổ m hôi công sức mới có được.

Với nội dung nêu trên, ản án s th m số 43/2019/HNGĐ-ST Ngy 27 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền đã quy t định:

1. Về quan h hôn nhân: hị Đỗ Thị Ng được ly hôn với anh Trần Trung D.

2. Về con chung: Giao con chung là Trần Ngọc Diễm Vi, sinh Ngy 29 tháng 10 năm 2014 cho chị Đỗ Thị Ng nuôi đ n khi con đủ 18 tuổi ho c có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Về nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con anh Trần Trung D có trách nhi m đóng góp cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000 đ ng/tháng kể từ tháng 10 năm 2019 cho đ n khi con đủ 18 tuổi.

au khi ly hôn, người không trực ti p nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về vi c chia tài sản:

Giao cho chị Đỗ Thị Ng sở h u căn nhà 03 tầng được xây dựng trên di n tích 45,44m2 tại thửa đất số 48 tờ bản đ số VM-29, số vào sổ cấp GCN: CH 11245 của UBND quận Ngô Quyền cấp Ngy 18 tháng 8 năm 2014.

Chị Đỗ Thị Ng phải trả cho anh Trần Trung D số tiền là 350.700.000 ( a trăm năm mư i tri u b y trăm nghìn) đ ng;

Chị Đỗ Thị Ng phải trả cho ông Đỗ Văn Lân và à Trần Thị Thìn số tiền là 130.000.000 (một trăm a mư i tri u) đ ng.

Ngoài ra ản án còn quy t định về án phí và quyền kháng cáo của các đư ng sự.

Ngy 09 tháng 10 năm 2019, anh Trần Trung D kháng cáo yêu cầu:

1. em xét giải quy t nội dung đ n đề nghị của Cổ đông và Hội đ ng thành viên ông ty TNHH TM DV VT on đường xanh (thông qua đ n của à Đào Thị Chi n Hải) cùng với vi c chia tài sản vì tài sản chung liên quan đ n công ty này.

2. em xét giải quy t vi c anh D đưa chị Ng 160.000.000 đ ng để trả nợ và chị Ng đã rút trong tài khoản cá nhân của anh D và của ông ty TNHH TM DV VT on đường xanh theo đ n trình ày Ngy 26 tháng 9 năm 2019.

3. Không chấp nhận phải chịu số tiền 6.600.000 đ ng là chi phí do yêu cầu ông ty th m định giá trị tài sản. Chị Ng đã tự bỏ ra không yêu cầu anh D phải thanh toán.

4. Không chấp nhận tuyên phần chênh l ch về tài sản cho chị Ng phần nhiều h n 100.000.000 đ ng là giá trị ngôi nhà.

5. Không chấp nhận giao nhà cho chị Ng vì đó là công sức của riêng anh D làm ra (chị Ng ở nhà, không có thu nhập gì).

6. Không đ ng ý mức lãi suất 9,5%/năm đối với khoản vay 100.000.000 đ ng của ông Đỗ Văn Lân và à Trần Thị Thìn. Đề nghị trả theo số tiền thực t ông Lân à Thìn phải trả mỗi tháng khoảng h n 500.000 đ ng.

Ngy 11 tháng 11 năm 2019, Vi n trưởng Vi n Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền kháng nghị yêu cầu sửa án s th m đối với phần chia tài sản, tính chi phí giám định và tuyên lãi suất chậm thi hành án, với lý do:

1. Tòa án xác định anh D vi phạm quyền và nghĩa vụ vợ ch ng do có quan h với người phụ n khác và có con riêng để chia tài sản chung cho chị Ng nhiều h n anh D 100.000 đ ng là không có căn cứ, bởi lẽ: Tòa án dựa vào chứng cứ là Phi u k t quả xét nghi m AND gi a anh Trần Trung D và cháu gái Lê Vy, sinh năm 2015 có huy t thống cha con của Trung tâm xét nghi m LOCI AND do nguyên đ n cung cấp mà không thu thập tài li u xác minh tính xác thực của chứng cứ này là chưa đủ c s chứng minh anh D vi phạm nghĩa vụ vợ ch ng. H n n a lý do ngoại tình chỉ là căn cứ giải quy t vi c ly hôn không phải là c sở đánh giá vi c chia tài sản chung của vợ ch ng. Ngoài ra, nguyên đ n chỉ yêu cầu Tòa án cho sở h u ngôi nhà 03 tầng và trả lại bị đ n ½ giá trị khối tài sản đã được định giá. Anh D cũng có quan điểm chia đôi giá trị tài sản nên vi c bản án quy t định như trên là vượt quá phạm vi khởi ki n. Vì vậy cần sửa theo hướng giao cho chị Ng sử dụng nhà 03 tầng và có trách nhi m thanh toán cho anh D ½ giá trị ngôi nhà.

2. Tòa án chia cho chị Ng được phần tài sản nhiều h n anh D 100.000.000 đ ng nhưng lại buộc anh D chịu ½ chi phí tố tụng là vi phạm khoản 2 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

3. Bản án không tuyên lãi suất chậm trả đối với phần công nợ phải thanh toán là vi phạm Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Ngoài ra, ản án nhận định vào Ngy 26 tháng 9 năm 2019 Tòa án có nhận được đ n của à Đào Thị Chi n Hải và tài li u do anh Trần Trung D giao nộp nhưng không được công khai tại phiên tòa và không sao chụp gửi cho Vi n Kiểm sát là vi phạm Điều 96, Điều 109 của Bộ luật Tố tụng dân sự. M t khác, tài li u anh D giao nộp nêu ra trong phần nội dung bản án nhưng lại không được nhận định trong bản án. Vi n kiểm sát không thấy có đề cập đ n à Đào Thị Chi n Hải tham gia với tư cách tố tụng nhưng Tòa án lại nhận định trong bản án là không có căn cứ.

Trong quá trình giải quy t vụ án theo trình tự phúc th m tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, tại iên ản làm vi c Ngy 10 tháng 3 năm 2020, chị Đỗ Thị Ng và anh Trần Trung D thống nhất trình ày như sau:

1. Giao ngôi nhà số 30/23/104 Đoạn á, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng là tài sản chung vợ ch ng có trị giá 938.000.000 đ ng (chín trăm a mư i tám tri u đ ng) cho anh Trần Trung D quản lý, sử dụng, định đoạt. Anh D có trách nhi m trả toàn ộ khoản nợ vay cá nhân riêng của vợ ch ng, trong đó có khoản vay của ông Đỗ Văn Lân, à Trần Thị Thìn số tiền 130.000.000 (một trăm a mư i tri u) đ ng tiền vay (trong đó tiền gốc là 100.000.000 đ ng và tiền lãi là 30.000.000 đ ng tính đ n Ngy xét xử s th m). Anh D không phải thanh toán giá trị chênh l ch tài sản là nhà và quyền sử dụng đất tại 30/23/104 Đoạn á, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, Hải Phòng cho chị Đỗ Thị Ng.

2. Chị Đỗ Thị Ng có trách nhi m thanh toán toàn ộ số tiền 6.600.000đ (sáu tri u sáu trăm nghìn) đ ng định giá tài sản.

3. Anh Trần Trung D không yêu cầu chị Đỗ Thị Ng phải thanh toán số tiền 160.000.000 đ ng mà chị Ng đã rút trong tài khoản cá nhân của anh D.

4. Tài sản chung của vợ ch ng anh D chị Ng không liên quan đ n ông ty TNHH Thư ng mại Dịch vụ vận tải on đường Xanh.

5. Về án phí chia tài sản chung và công nợ: Anh Trần Trung D tự nguy n nộp toàn ộ án phí chia tài sản chung và án phí về công nợ. Số tiền tạm ứng án phí 20.000.000 đ ng chị Đỗ Thị Ng đã nộp được trả lại cho chị Ng.

6. Đ ng ý với các nội dung khác của bản án s th m 43/2019/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Chị Đỗ Thị Ng và anh Trần Trung D đề nghị Tòa án xét xử vắng m t và yêu cầu công nhận sự thỏa thuận trên của anh chị.

Tại phiên tòa, đại di n Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát iểu:

Về vi c chấp hành pháp luật của c quan ti n hành tố tụng và người ti n hành tố tụng: Về vi c tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quy t vụ án của Th m phán, Thư ký, Hội đ ng xét xử; vi c chấp hành pháp luật của các đư ng sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đ n trước thời điểm Tòa án nghị án đã đảm ảo đúng quy định của ộ luật Tố tụng Dân sự.

Về kháng nghị: Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng vẫn gi nguyên kháng nghị của Vi n trưởng Vi n kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền. Trong quá trình giải quy t tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, nguyên đ n và ị đ n đã thỏa thuận với nhau về vi c giải quy t vụ án. ét thấy các nội dung thỏa thuận của các đư ng sự được ghi trong iên ản làm vi c Ngy 10 tháng 3 năm 2020 là hoàn toàn tự nguy n và không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, vì vậy, đề nghị Hội đ ng xét xử căn cứ Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa Bản án số 43/2019/HNGĐ-ST Ngy 27 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, công nhận các nội dung thỏa thuận của đư ng sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con khi ly hôn, chia tài sản chung vợ ch ng được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; anh Trần Trung D cư trú trên địa àn quận Ngô Quyền nên Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền thụ lý, giải quy t là đúng th m quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng m t của nh ng người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng m t lần thứ hai không có lý do m c dù đã được tống đạt hợp l . Nguyên đ n, ị đ n đ ng thời là người kháng cáo vắng m t lần thứ hai nhưng đã đề nghị xét xử vắng m t. ăn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án ti n hành xét xử vắng m t họ.

+ ét nội dung kháng cáo:

[3] Nguyên đ n và ị đ n vắng m t tại phiên tòa nhưng yêu cầu xét xử vắng m t và yêu cầu Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận của họ tại iên ản làm vi c Ngy 10 tháng 3 năm 2020. ét thấy, tại tại iên ản làm vi c Ngy 10 tháng 3 năm 2020 chị Ng và anh D đã thỏa thuận được với nhau về vi c giải quy t vụ án, cũng như các nội dung kháng cáo. ét sự tự nguy n của anh D và chị Ng là tự nguy n, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội theo Điều 300 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đ ng xét xử phúc th m sửa bản án s th m, công nhận sự thỏa thuận của các đư ng sự theo iên ản làm vi c Ngy 10 tháng 3 năm 2020.

+ ét các nội dung kháng nghị:

[4] Về yêu cầu không chấp nhận chia tài sản do chị Ng nhiều h n anh D 100.000.000 đ ng vì xác định anh D có lỗi trong quan h hôn nhân: Tài li u trong h s vụ án có Phi u k t quả xét nghi m ADN gi a anh D và cháu Lê Vy, sinh năm 2015. Tài li u này do chị Ng cung cấp nhưng tại các phiên hoà giải, ti p cận, công khai chứng cứ, không được cấp s th m kiểm tra, ti p cận và công khai chứng cứ. Không thể hi n đã nhận chứng cứ nêu trên tại giai đoạn nào. M t khác, Hội đ ng xét xử s th m căn cứ vào lời khai của chị Ng và tài li u do chị Ng cung cấp để đánh giá lỗi của anh D có quan h với người phụ n khác và đã có con riêng, là nguyên nhân dẫn đ n vợ ch ng ly hôn mà không kiểm tra chứng cứ là chưa đủ căn cứ chứng minh vi c anh D có lỗi để giải quy t vi c phân chia tài sản chung của anh D và chị Ng theo điểm d khoản 2 Điều 59 của Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Tài sản chung của vợ ch ng được chia đôi nhưng có tính đ n các y u tố sau…Lỗi của một ên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ ch ng” nên chấp nhận nội dung kháng nghị trên của của Vi n trưởng Vi n Kiểm sát nhân dân Ngô Quyền. Tuy nhiên kháng nghị cho rằng ngoại tình chỉ là căn cứ chấp nhận cho hai ên ly hôn, không phải c sở đánh giá liên quan đ n vi c chia tài sản chung của vợ ch ng là không đúng điểm d khoản 2 Điều 59 của Luật Hôn nhân và Gia đình, điểm d khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- TP này 06 tháng 01 năm 2016.

[5] Quá trình giải quy t vụ án, chị Đỗ Thị Ng và anh Trần Trung D yêu cầu giải quy t ngôi nhà là tài sản chung của vợ ch ng theo quy định của pháp luật. Chị Ng nhận sở h u nhà và thanh toán ½ giá trị ngôi nhà cho anh D nhưng tại phiên tòa s th m, chị Ng yêu cầu Tòa án xem xét đ n lỗi của anh D khi phân chia tài sản chung. Do vậy, căn cứ vào yêu cầu của chị Ng, Tòa án cấp s th m đã giải quy t theo đúng yêu cầu của nguyên đ n và không vượt quá phạm vi khởi ki n an đầu của đư ng sự như nội dung kháng nghị của Vi n Vi n trưởng Vi n Kiểm sát nhân dân Ngô Quyền.

[6] Về chi phí tố tụng: Tại iên ản hoà giải Ngy 28 tháng 5 năm 2019, anh D trình ày do không thống nhất được giá trị của căn nhà số 30/23/104 đường Đoạn á, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nên yêu cầu Toà án chỉ định ông ty Th m định giá trị căn nhà trên. Tại phiên toà Ngy 27 tháng 9 năm 2019, anh D vắng m t, chị Ng yêu cầu mỗi người chịu một nửa chi phí tố tụng th m định. Tuy nhiên khi chia tài sản chung của chị Ng và anh D, toà án cấp s th m chia cho chị Ng phần tài sản nhiều h n anh D nhưng lại buộc anh D chịu ½ chi phí tố tụng là không đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng Dân sự nên Hội đ ng xét xử chấp nhận nội dung kháng nghị này của Vi n trưởng Vi n Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền.

[7] Về kháng nghị bản án không tuyên nghĩa vụ chậm trả đối với phần công nợ theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự: Hội đ ng xét xử thấy tại Bản án số 43/HNGĐ- T này 27 tháng 9 năm 2019 của Toà án nhân dân quận Ngô Quyền đã có quy t định về vi c chậm thực hi n nghĩa vụ của chị Ng theo Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự nên nội dung kháng nghị này không có căn cứ chấp nhận.

[8] Đối với nh ng tài li u là đ n đề nghị của à Đào Thị Chi n Hải Ngy 26 tháng 9 năm 2019 và tài li u do anh Trần Trung D giao nộp sau khi có Quy t định đưa vụ án ra xét xử nhưng đã được Hội đ ng xét xử s th m công ố tại phiên tòa s th m được thể hi n tại iên ản phiên tòa. Do vậy, nội dung kháng nghị này cũng không có căn cứ.

[9] Từ nh ng phân tích trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đ ng xét xử chấp nhận một phần kháng nghị của Vi n trưởng Vi n Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, công nhận sự thỏa thuận của các đư ng sự, sửa bản án s th m.

[10] Về án phí: Do bản án s th m bị sửa nên đư ng sự kháng cáo là anh Trần Trung D không phải chịu án phí dân sự phúc th m. Về án phí dân sự s th m, chị Đỗ Thị Ng và anh Trần Trung D thỏa thuận với nhau anh D sẽ chịu toàn ộ tiền án phí dân sự s th m và trả lại chị Ng 20.000.000 đ ng tiền tạm ứng án phí s th m đã nộp. Do vậy, các đư ng sự chịu án phí dân sự s th m theo thỏa thuận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

ăn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 300, khoản 2 Điều 308 của ộ luật Tố tụng dân sự;

ăn cứ vào Điều 59, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

ăn cứ vào điểm a, b khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27, khoản 5 Điều 29 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 Ngy 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án;

1. Sửa Bản án s th m số 43/HNGĐ-ST Ngy 27/9/2019 của Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, công nhận sự thỏa thuận của các đư ng sự như sau:

1.1. Về quan h hôn nhân: hị Đỗ Thị Ng được ly hôn với anh Trần Trung D.

1.2. Về con chung: Giao con chung là Trần Ngọc Diễm Vi, sinh Ngy 29 tháng 10 năm 2014 cho chị Đỗ Thị Ng nuôi đ n khi con đủ 18 tuổi ho c có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Về nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con anh Trần Trung D có trách nhi m đóng góp cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000 (ba tri u) đ ng/tháng kể từ tháng 10 năm 2019 cho đ n khi con đủ 18 tuổi.

au khi ly hôn, người không trực ti p nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

1.3. Về vi c chia tài sản: ông nhận sự thỏa thuận của chị Đỗ Thị Ng và anh Trần Trung D như sau:

Giao ngôi nhà số 30/23/104 Đoạn á, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, Hải Phòng là tài sản chung vợ ch ng có trị giá 938.000.000 đ ng (chín trăm a mư i tám tri u đ ng) cho anh Trần Trung D quản lý, sử dụng, định đoạt. Anh D có trách nhi m trả toàn ộ khoản nợ vay cá nhân riêng của vợ ch ng, trong đó có khoản vay của ông Đỗ Văn Lân, à Trần Thị Thìn số tiền 130.000.000 (một trăm a mư i tri u) đ ng (trong đó tiền gốc là 100.000.000 đ ng và tiền lãi là 30.000.000 đ ng tính đ n Ngy xét xử s th m). Anh D không phải thanh toán giá trị chênh l ch tài sản là nhà và quyền sử dụng đất tại 30/23/104 Đoạn á, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, Hải Phòng cho chị Đỗ Thị Ng.

Chị Đỗ Thị Ng có trách nhi m thanh toán toàn ộ số tiền 6.600.000 (sáu tri u sáu trăm nghìn) đ ng chi phí tố tụng về định giá tài sản.

Anh Trần Trung D không yêu cầu chị Đỗ Thị Ng phải thanh toán số tiền 160.000.000 (một trăm sáu mư i tri u) đ ng mà chị Ng đã rút trong tài khoản cá nhân của anh D.

Tài sản chung của vợ ch ng anh D chị Ng không liên quan đ n ông ty TNHH Thư ng mại Dịch vụ vận tải on đường Xanh.

Về án phí chia tài sản chung và công nợ: Anh Trần Trung D tự nguy n nộp toàn ộ án phí chia tài sản chung và án phí về công nợ. Số tiền tạm ứng án phí 20.000.000 (hai mư i tri u) đ ng chị Đỗ Thị Ng đã nộp được trả lại cho chị Ng.

Đ ng ý với các nội dung khác của Bản án s th m 43/2019/HNGĐ-ST Ngy 27 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Kể từ Ngy có đ n yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đ n khi thi hành xong tất xả các khoản tiền, ên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 ộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. ác Quy t định khác của Bản án số 43/HNGĐ-ST Ngy 27 tháng 9 năm 2019 của Toà án nhân dân quận Ngô Quyền không ị kháng cáo, kháng nghị có hi u lực pháp luật kể từ Ngy h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Về án phí:

3.1. Về án phí ly hôn s th m:

hị Đỗ Thị Ng phải chịu án phí ly hôn s th m là 300.000 đ ng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đ ng đã nộp theo iên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0015659 Ngy 12 tháng 3 năm 2019 tại hi cục Thi hành án quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. hị Ng đã nộp đủ án phí ly hôn s th m.

Trả lại chị Đỗ Thị Ng 20.000.000 (hai mư i tri u) đ ng tiền tạm ứng án phí chia tài sản chung của vợ ch ng chị Ng đã nộp theo iên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0015718 Ngy 03 tháng 4 năm 2019.

Anh Trần Trung D phải chịu 300.000 đ ng án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi và phải chịu án phí chia tài sản chung, công nợ là 44.040.000 ( ốn mư i ốn tri u không trăm ốn mư i nghìn đ ng).

3.2. Về án phí ly hôn phúc th m: Anh Trần Trung D không phải chịu án phí ly hôn phúc th m. Trả lại anh D 300.000đ ( a trăm nghìn đ ng) phải chịu án phí hôn nhân và gia đình phúc th m đã nộp tại iên lai thu tiền số 006084 Ngy 21 tháng 10 năm 2019 của hi cục Thi hành án quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Trong trường hợp bản án, quy t định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án ho c bị cưỡng ch thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hi u thi hành án dân sự được thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014.

ản án phúc th m có hi u lực pháp luật kể từ Ngy tuyên án.

Cỡ chữ