- Tranh chấp gì? án dân sự — "Bản án DSST T - H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Viết T.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/DSST Ngày: 11/9/2020 V/v “ Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Huế
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trương Thị Lệ Chi : Phó Chủ tịch Hội bảo trợ trẻ em và người tàn tật
2. Ông Hà Như Thịnh: Nguyên Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Tấn Duy– Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông, Đăk Lăk
tham gia phiên toà: Ông Lâm Văn Tiến – Kiểm sát viên
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 55/2020/DSST ngày 18 tháng 6 năm 2020, về việc: “ Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 04A /2020/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên toà số13B ngày 07/8/2020, giữa các đương sự :
Nguyên đơn : Nguyễn Viết T
Địa chỉ: Thôn A, xã CK, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn: Nguyễn Văn H
Địa chỉ: Buôn CN, xã DK , huyện KB, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại các buổi làm việc tại Toà án, nguyên đơn anh Nguyễn Viết T trình bày:
Từ cuối năm 2016 đến tháng 9/2017, tôi bán thức ăn gia súc, gia cầm cho ông Nguyễn Văn H, hai bên có làm hợp đồng với nhau.
Trong hợp đồng có nêu rõ, khi bên A ( Nguyễn Viết T) giao đủ số cám (tương đương 200.000.000 đồng) cho bên B ( Nguyễn Văn H) thì bên B ( Nguyễn Văn H ) phải thanh toán tiền cho bên A ( Nguyễn Viết T) thành 2 đợt, mỗi đợt là 100.000.000đ vào lần lấy cám tiếp theo. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn H đã không làm đúng theo thoả thuận trong hợp đồng. Do đó, tôi đã yêu cầu ông Nguyễn Văn H thanh lý hợp đồng và trả tiền cám mà tôi đã bán cho ông Nguyễn Văn H nhưng ông khất lần và cố tình không trả tiền cho tôi.
Đến nay, số tiền cám mà ông Nguyễn Văn H còn nợ tôi là 199.325.000 đ ( một trăm chín chín triệu ba trăm hai lăm ngàn đồng) .
Do vậy, nay tôi đề nghị Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, Đăk Lăk giải quyết buộc ông Nguyễn Văn H có trách nhiệm trả cho tôi số tiền còn nợ là 199.325.000đ (một trăm chín chín triệu ba trăm hai lăm ngàn đồng).
Về tiền lãi: Tôi không yêu cầu tính lãi.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/7/2020 và tại biên bản hoà giải ngày 14/7/2020, bị đơn - ông Nguyễn Văn H trình bày: Năm 2017, anh Nguyễn Viết T có đầu tư cám cho tôi nuôi gà, vịt. Sau đó thì anh Nguyễn Viết T thông báo là không bán cho tôi nữa và yêu cầu tôi trả số tiền là 202.075.000 đồng. Mặc dù khó khăn nhưng tôi cũng vay mượn trả cho anh Nguyễn Viết T được 49.000.000đồng ( bốn mươi chín triệu đồng). Như vậy, tôi chỉ còn nợ lại anh Nguyễn Viết T số tiền là 153.075.000 đồng.
Do vào tháng 9/2019, anh Nguyễn Viết T thuê 6 người lạ mặt đến nhà tôi đòi nợ, tôi nói từ từ tôi trả thì 6 người lạ mặt kia xông vào đấm đá tôi túi bụi, làm tôi gãy xương. Tôi đã báo sự việc cho Công an nên khi nào Cơ quan Công an huyện Krông Bông, Đăk Lăk giải quyết xong việc anh Nguyễn Viết T thuê người đánh tôi thì tôi mới trả tiền cám còn nợ cho anh Nguyễn Viết T là 153.075.000 đ ( một trăm năm ba triệu không trăm bảy lăm ngàn đồng) .
Tại phiên toà:
- Nguyên đơn - anh Nguyễn Viết T trình bày: Thực tế, ông Nguyễn Văn H còn nợ tôi số tiền là 199.325.000đ ( một trăm chín chín triệu ba trăm hai lăm ngàn đồng). Tuy nhiên, tại các buổi làm việc tại Tòa án, ông Nguyễn Văn H cho rằng chỉ còn nợ tôi số tiền là 153.075.000 đồng. Mặc dù ít hơn số tiền ông Nguyễn Văn H thực chất nợ tôi là 46 250 000 đ ( bốn sáu triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) nhưng tôi chấp nhận và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết buộc ông Nguyễn Văn H phải trả cho tôi số tiền là 153.075.000 đ ( một trăm năm ba triệu không trăm bảy lăm ngàn đồng). Còn số tiền chênh lệch 46 250 000 đ , tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tiền lãi: Tôi không yêu cầu tính lãi, chỉ yêu cầu ông Nguyễn Văn H trả cho tôi tiền gốc còn nợ.
Về án phí: Tôi đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Bị đơn vắng mặt tại phiên toà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông phát biểu ý
kiến về trình tự, thủ tục của vụ án đã tuân thủ đầy đủ các quy định của
pháp luật.
Về tố tụng:Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào Nghị án, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Mặc dù Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, Đăk Lăk đã triệu tập ông Nguyễn Văn H đến tham gia tố tụng tại phiên toà nhưng ông Nguyễn Văn H đã không đến phiên toà. Đây là lần thứ hai phiên toà được mở nhưng ông Nguyễn Văn H vắng mặt không lý do. Việc ông Nguyễn Văn H cố tình vắng mặt tại phiên toà là tự từ bỏ quyền được tham gia tố tụng tại phiên toà của mình. Do vậy, căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, Đăk Lăk vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung:
Đối với số tiền nợ: anh Nguyễn Viết T bán cám gà, cám vịt cho ông Nguyễn Văn H từ cưới năm 2016 đến tháng 9 năm 2017, hai bên có làm hợp đồng mua bán với nhau.
Trong hợp đồng có nêu: Khi bên A ( Nguyễn Viết T) giao đủ số cám (tương đương 200.000.000 đồng) cho bên B ( Nguyễn Văn H) thì bên B ( Nguyễn Văn H) phải thanh toán tiền cho bên A ( Nguyễn Viết T) thành 2 đợt, mỗi đợt là 100.000.000đ vào lần lấy cám tiếp theo.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn H đã không làm đúng theo thoả thuận trong hợp đồng nên anh Nguyễn Viết T đã không bán cám cho ông Nguyễn Văn H nữa và yêu cầu ông Nguyễn Văn H trả số tiền là 202.075.000 đồng ( hai trăm linh hai triệu không trăm bảy lăm ngàn đồng).
Theo ông Nguyễn Văn H thì ông đã trả cho anh Nguyễn Viết T được 49.000.000đ và ông chỉ còn nợ anh Nguyễn Viết T số tiền là 153.075.000đồng. Còn anh Nguyễn Viết T cho rằng, ông Nguyễn Văn H còn nợ anh số tiền là 199.325.000 đ ( một trăm chín chín triệu ba trăm hai lăm ngàn đồng) và yêu cầu ông Nguyễn Văn H trả số tiền 199.325.000 đ . Nhưng tại phiên toà, anh Nguyễn Viết T chấp nhận ý kiến của ông Nguyễn Văn H là ông Nguyễn Văn H còn nợ anh số tiền 153.075.000đồng và đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông Nguyễn Văn H phải trả cho anh số tiền còn nợ là 153.075.000đồng là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị này của anh Nguyễn Viết T.
Đối với số tiền ông Nguyễn Văn H không chấp nhận là 46 250 000 đồng, anh Nguyễn Viết T không yêu cầu ông Nguyễn Văn H phải trả số tiền này. Do vậy, không đặt ra để giải quyết.
Về tiền lãi: Anh Nguyễn Viết T không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: Do yêu cầu của anh Nguyễn Viết T được chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông Nguyễn Văn H phải chịu trách nhiệm nộp án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là : 153.075.000đ x 5 % = 7.650.000đ ( bảy triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng).
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại tiền tạm ứng án phí cho anh Nguyễn Viết T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[ 1] Về tố tụng: Mặc dù Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, Đăk Lăk đã triệu tập ông Nguyễn Văn H đến tham gia tố tụng tại phiên toà nhưng ông Nguyễn Văn H đã không đến phiên toà. Đây là lần thứ hai phiên toà được mở nhưng ông Nguyễn Văn H vắng mặt không lý do. Việc ông Nguyễn Văn H cố tình vắng mặt tại phiên toà là tự từ bỏ quyền được tham gia tố tụng tại phiên toà của mình. Do vậy, căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, Đăk Lăk vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[ 2]Về nội dung vụ án:
Đối với số tiền nợ: anh Nguyễn Viết T bán cám gà, cám vịt cho ông Nguyễn Văn H từ cuối năm 2016 đến tháng 9/2017, hai bên có làm hợp đồng mua bán với nhau.
Trong hợp đồng có nêu: Khi bên A ( Nguyễn Viết T) giao đủ số cám (tương đương 200.000.000 đồng) cho bên B ( Nguyễn Văn H) thì bên B ( Nguyễn Văn H) phải thanh toán tiền cho bên A ( Nguyễn Viết Thắng) thành 2 đợt, mỗi đợt là 100.000.000đ vào lần lấy cám tiếp theo.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn H đã không làm đúng theo thoả thuận trong hợp đồng nên anh Nguyễn Viết T đã không bán cám cho ông Nguyễn Văn H nữa và yêu cầu ông Hát trả số tiền là 202.075.000 đồng ( hai trăm linh hai triệu không trăm bảy lăm ngàn đồng).
Theo ông Nguyễn Văn H thì ông đã trả cho anh Nguyễn Viết T được 49.000.000đ và ông chỉ còn nợ anh Nguyễn Viết T số tiền là 153.075.000 đồng. Còn anh Nguyễn Viết T cho rằng, ông Nguyễn Văn H còn nợ anh số tiền là 199.325.000đ ( một trăm chín chín triệu ba trăm hai lăm ngàn đồng) và yêu cầu ông Hát trả số tiền 199.325.000 đ. Nhưng tại phiên toà, anh Nguyễn Viết T chấp nhận ý kiến của ông Nguyễn Văn H cho rằng ông Nguyễn Văn H còn nợ anh số tiền là 153.075.000đồng và yêu cầu ông Nguyễn Văn H trả cho anh số tiền còn nợ là 153.075.000đồng là có cơ sở nên cần chấp nhận.
Đối với số tiền còn lại là 46 250 000 đồng, anh Nguyễn Viết T không yêu cầu ông Nguyễn Văn H phải trả số tiền này. Do vậy, không đặt ra để giải quyết.
Đối với đề nghị của ông Nguyễn Văn H cho rằng khi nào Công an huyện Krông Bông, Đăk Lăk giải quyết xong việc anh Nguyễn Viết T thuê người đánh ông xong thì ông mới trả tiền cho anh Nguyễn Viết T là không phù hợp nên không chấp nhận.
Về tiền lãi: Anh Nguyễn Viết T không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: Do yêu cầu của anh Nguyễn Viết T được chấp nhận nên cần buộc ông Hát phải chịu trách nhiệm nộp án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là : 153.075.000đ x 5 % = 7.653.750đ ( bảy triệu sáu trăm năm mươi ba ngàn bảy trăm năm mươi đồng).
Cần trả lại tiền tạm ứng án phí cho anh Nguyễn Viết T.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự ;
- Điều 431; Điều 440 và Điều 453 Bộ luật Dân sự ;
- Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Viết T.
Buộc ông Nguyễn Văn H có trách nhiệm trả cho anh Nguyễn Viết T số tiền còn nợ là 153.075.000 đồng ( một trăm năm mươi ba triệu không trăm bảy lăm ngàn đồng).
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm theo quy định tại khoản 1 Điều 357 Bộ luật Dân sự.
Về án phí: Ông Nguyễn Văn H chịu trách nhiệm nộp 7.653.750đ ( bảy triệu sáu trăm năm mươi ba ngàn bảy trăm năm mươi đồng ) án phí Dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho anh Nguyễn Viết T số tiền tạm ứng án phí là 5.052.000đ ( năm triệu không trăm năm hai ngàn đồng) đã nộp theo biên lai số 0006740 ngày 16/6/2020 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Krông Bông.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị đơn có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - CQTHADS huyện; - Các đương sự; - Lưu. | T/M – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Huế |