vanban.org

Bản án 04/2020/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Ông Trần Văn S khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp về Bồi thường thiệt hại theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước với Chi cục Thi hành…"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
  • Căn cứ chính? Điều 12 Luật Trách nhiệm bồi thường; Điều 140 Luật Thi hành án dân sự tính đến; Điều 23 Luật Trách nhiệm bồi thường
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 04/2020/DS-ST
Ngày: 21-02-2020
V/v tranh chấp Bồi thường thiệt hại
theo Luật trách nhiệm bồi thường
của Nhà nước

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Văn Tâm;

2. Ông Ngô Văn Mừng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 379/2019/TLST-DS ngày 11

tháng 9 năm 2019 về tranh chấp Bồi thường thiệt hại theo Luật trách nhiệm bồi

thường của Nhà nước theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2020/QĐXX-

ST ngày 08 tháng 01 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn S, sinh năm 1949; địa chỉ cư trú: ấp M, xã

M, huyện C, tỉnh An Giang; Có mặt.

2. Bị đơn: Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh An Giang, địa chỉ: số

127, đường Thoại Ngọc Hầu, ấp A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Thế M, chức vụ: Chi cục

trưởng.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Huỳnh Minh Đ, chức vụ: Phó Chi cục

trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh An Giang (Văn bản ủy quyền

ngày 14/02/2020); Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn ông Trần Văn S tr nh bày:

ông là người được thi hành án Theo bản án sơ thẩm số 73/2013/DS-ST ngày 27/5/2013 của Tòa án nhận dân huyện A, tỉnh An Giang với bên phải thi hành án là ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị B do Chi cục Thi hành án huyện A, tỉnh An Giang tổ chức thi hành với số tiền là 310.254.000đồng. Trong quá tr nh thi hành án, ông đã nhận được 53.713.000đồng, còn lại 256.541.000đồng chưa thi hành. Lý do: ông Ngô Văn G (Chấp hành viên Chi cục thi hành án huyện A, đã chết) đã thu của bà Trần Thị B số tiền chuộc lại tài sản 120.000.000đồng, không nhập vào quỹ cơ quan để chi trả cho người được thi hành án mà chi xài cá nhân. Sau khi ông khiếu nại, được Chi cục trưởng Chi cục thi hành án huyện A, tỉnh An Giang giải quyết khiếu nại theo Quyết định số 01/QĐ-CCTHA ngày 03/01/2017, theo quyết định giải quyết khiếu nại đã xác định hành vi của Chấp hành viên Ngô Văn G là trái pháp luật. Nay, ông S yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện A, tỉnh An Giang bồi thường thiệt hại theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước với số tiền 256.541.000đồng.

Ông Huỳnh Minh Đ là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn tr nh bày:

Ông Trần Văn S yêu cầu bồi thường số tiền thi hành án còn lại là 256.541.000đồng là chưa đủ cơ sở pháp lý v thực tế giá trị tài sản để thi hành án 1.100.082.000đồng, đã thi hành được 1.020.082.000đồng chỉ còn lại 80.000.000đồng mới là số tiền được xác định bồi thường thiệt hại cho những người được thi hành án (gồm ông P, bà G; ông S và ông K) chứ không phải bồi thường thiệt hại toàn bộ số tiền còn lại theo quyết định thi hành án của ông Trần Văn S. Trong tổng số tiền 80.000.000đồng chia theo tỷ lệ cho ông S và những người được thi hành án như sau: ông Nguyễn Văn K được 56.789.900đồng, ông Trần Văn S được 12.878.300đồng, ông Trương Hoài P, bà Trần Thị G được 10.331.800đồng. Đối với số tiền còn lại chưa thi hành án của từng người th đương nhiên ông H, bà B còn nợ lại các bên các bên được thi hành án, khi nào ông H, bà B có điều kiện thi hành án th sẽ tiếp tục thi hành án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc

tuân theo pháp luật tố tụng trong quá tr nh giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Ý kiến về việc đề xuất giải quyết vụ án:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn S.

- Buộc Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh An Giang bồi thường

thiệt hại theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cho ông Trần Văn S với số tiền 12.878.300 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận

định:

Về thủ tục tố tụng: Ông Trần Văn S khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp

về Bồi thường thiệt hại theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước với Chi

cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh An Giang. Ông S lựa chọn Tòa án nhân

dân huyện Chợ Mới giải quyết. Căn cứ các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng

dân sự, Điều của 53 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Tòa án nhân

dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết là đúng theo quy định.

Về nội dung:

Đối với việc ông Sáu cho rằng Chi cục Thi hành án dân sự huyện A,

tỉnh An Giang không tiến hành thủ tục ký hợp đồng bán đấu giá tài sản của ông

H, bà B để thu hồi nợ mà giải tỏa kê biên tài sản khi chưa thi hành án xong làm

thiệt hại tài sản của ông là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Căn cứ điểm

d khoản 2 Điều 140 Luật Thi hành án dân sự tính đến thời điểm hiện nay ông S

không cung cấp được kết luận của cơ quan có thẩm quyền là việc ông G ra quyết

định giải tỏa kê biên là trái pháp luật cho nên yêu cầu này của ông S thuộc

trường hợp chưa có đủ điều kiện khởi kiện.

Đối với việc ông Trần Văn S khởi kiện yêu cầu Chi cục Thi hành án

dân sự huyện A, tỉnh An Giang bồi thường thiệt hại theo Luật trách nhiệm bồi

thường của Nhà nước với số tiền 256.541.000đồng. Căn cứ khởi kiện của ông S

là quyết định giải quyết khiếu nại số 01 ngày 03/01/2017 của Chi cục trưởng Chi

cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh An Giang theo quyết định th Chi cục Thi

hành án dân sự huyện A, tỉnh An Giang xác định hành vi của chấp hành viên

Ngô Văn G đã thu tiền của người phải thi hành án nhưng không nhập quỹ cơ

quan để chia theo tỷ lệ cho các đương sự là hành vi trái pháp luật, hiện tại ông

Ghê đã chết cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ra Quyết định

đ nh chỉ điều tra vụ án, và Quyết định đ nh chỉ điều tra bị can đối với Ngô Văn

G nên việc ông S yêu cầu bồi thường theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà

nước là có căn cứ chấp nhận.

Tuy nhiên, về số tiền ông S yêu cầu bồi thường là toàn bộ số tiền ông H,

bà B còn phải thi hành án đối với ông là 256.541.000đồng, Chi cục Thi hành án

dân sự huyện A, tỉnh An Giang xác định về số tiền ông Ngô Văn G chiếm đoạt

là 120.000.000đồng nhưng đã khắc phục được 40.000.000đồng còn

80.000.000đồng (do ông Ngô Văn G chiếm đoạt) là số tiền được xác định bồi

thường thiệt hại. Hội đồng xét xử thấy rằng, trong vụ án này, chỉ có ông S là

người khởi kiện yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh An Giang bồi

thường thiệt hại, trong khi đó, số tiền bị chiếm dụng Chi cục Thi hành án dân sự

huyện A, tỉnh An Giang phải thi hành cho 03 bản án có Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu gồm: Quyết định số 694/QĐ-CCTHA ngày 08/8/2013 thi hành cho ông Trương Hoài P, bà Trần Thị G số tiền 248.906.500đồng, Quyết định số 695/QĐ-CCTHA ngày 08/8/2013 thi hành cho ông Trần Văn S số tiền 310.254.000đồng và Quyết định số 696/QĐ-CCTHA ngày 08/8/2013 thi hành cho ông Nguyễn Văn K số tiền 1.368.138.000đồng; tổng giá trị tài sản yêu cầu thi hành án là 1.927.298.500đồng th mỗi người yêu cầu thi hành án được chia theo tỷ lệ phần trăm của giá trị tài sản yêu cầu thi hành án. V vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông S và số tiền bồi thường được tính như sau:

Phần của ông S yêu cầu thi hành án số tiền 310.254.000đồng trên tổng giá

trị tài sản yêu cầu thi hành án là 1.927.298.500đồng, chiếm tỷ lệ 16,10%. Như vậy, đối với số tiền thiệt hại ông S được bồi thường là: 80.000.000đồng x 16,10% = 12.878.300đồng.

Về án phí:

Ông Trần Văn S là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại

điểm đ khoản 1, Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Cơ quan giải quyết bồi thường không thu các khoản án phí theo quy định

tại khoản 1 Điều 76 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cho nên đương sự không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Các Điều 26, 35, 39 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Các Điều 5,12, 23, 53 và 76 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn S.

1) Buộc Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh An Giang có nghĩa vụ

bồi thường thiệt hại theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cho ông Trần Văn S với số tiền 12.878.300đồng (Bằng chữ: Mười hai triệu tám trăm bảy mươi tám ngh n ba trăm đồng);

2) Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối

với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi

hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự

năm 2015.

3) Về án phí: Ông Trần Văn S được miễn án phí và Chi cục Thi hành án

dân sự huyện A, tỉnh An Giang không phải chịu án phí.

4) Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự

có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc

thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có

quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi

hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30

Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ