vanban.org

Bản án 04/2020/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Đình T về yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

Buộc anh Lâm Trung D phải bồi thường cho anh Vũ Đình T số tiền 10.111.805đ (Mười triệu, một trăm mười một nghìn, tám trăm linh năm đồng). Kể từ ngày anh T có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền trên, nếu anh D chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "anh Vũ Đình T về yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Đình T về yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.
  • Căn cứ chính? Điều 584 Bộ luật Dân sự; Điều 585 Bộ luật Dân sự; Điều 586 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2020/DS-ST
Ngày 04-12-2020
V/v tranh chấp “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng do sức khỏe bị xâm phạm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Đình Mạnh

2. Ông Phạm Viết Trung

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mừng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Binh Giang, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án T lý số: 07/2020/TLST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm hại, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2020/QĐXX-ST ngày 16 tháng 11 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Vũ Đình T, sinh năm 1972.

2. Bị đơn: Anh Lâm Trung D, sinh năm 1981.

3. Người làm chứng: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1976;

Đều có địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, tại buổi hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Vũ Đình T trình bày: Do anh có đơn tố cáo một số sai phạm của ông Lâm Đình H (là bố đẻ anh anh Lâm Trung D), hiện ông H đang làm Trưởng thôn kiêm Bí thư thôn Phú Bùi nên vào hồi 14 giờ ngày 29/12/2019, khi anh đang đứng trong sân thì anh D cùng một số người là người thân của anh D xông vào nhà định đánh anh, thấy vậy vợ anh đã đóng cổng lại không cho anh D xông vào. Anh D đã dùng xe mô tô lao thẳng vào cổng, làm cánh cổng bật ra, anh D tiếp tục lao xe vào người anh làm anh bị ngã. Một lúc sau tỉnh lại thì thấy anh D tiếp tục định lao xe vào người anh nhưng được một đồng chí Công an viên của xã giữ lại, đưa về trụ sở Ủy ban nhân dân xã làm việc. Bản thân anh được người nhà đưa đến Trung tâm y tế huyện Bình Giang điều trị từ ngày 29/12/2019 đến ngày 06/01/2020 thì ra viện. Anh xác định thương tích của anh là do anh D gây ra nên đề nghị Tòa án buộc anh D phải bồi thường cho anh các khoản tiền bao gồm: Tiền viện phí và thuốc: 21.018.000đ; thu nhập thực tế bị mất trong quá trình điều trị, phục hồi sức khỏe là 90 ngày x 200.000đ/người/ngày = 18.000.000đ; Tiền mất thu nhập của người chăm sóc trong thời gian anh nằm viện là 8 ngày x 200.000đ/người/ngày = 1.600.000đ; tiền bù đắt tổn thất về tinh thần là 20 tháng lương x 1.210.000đ/tháng = 24.200.000đ. Tổng cộng các khoản là 64.818.000đ.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn là anh Lâm Trung D trình bày: Anh và anh T là người cùng thôn Phú Bùi. Do anh T thường xuyên có những hành động và lời nói không tôn trọng bố đẻ anh là ông Lâm Đình H, đỉnh điểm là ngày 29/12/2019 anh T đã chửi bới, xúc phạm bố đẻ anh. Vì vậy, anh đã đi xe mô tô đến nhà anh T mục đích để nói chuyện nhưng vợ anh T đã đóng cổng, không cho anh vào nhà. Khi anh đứng ở ngoài cổng thì anh T đứng trong sân liên tục chửi bới, xúc phạm anh, anh định xông vào thì được mọi người can ngăn nên anh quay xe định bỏ về, anh T tiếp tục chửi và thách thức anh, do nóng giận nên anh đã đâm đầu xe của mình vào cánh cổng nhà anh T làm chốt cánh cổng bật ra, cánh cổng va vào người anh T làm anh T ngã ra phía sau. Sự việc xảy ra có cả Công an viên xã Hồng Khê chứng kiến. Ngay sau đó, anh đã được Công an viên mời về trụ sở Công an xã để làm việc. Nay anh T có đơn khởi kiện yêu cầu anh phải bồi thường tổng số tiền là 64.818.000đ, anh không đồng ý. Trước khi mở phiên tòa anh có quan điểm chỉ nhất trí bồi thường cho anh T tổng số tiền 10.000.000đ nhưng anh T đã không đồng ý, tại phiên tòa hôm nay anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Lời khai của người làm chứng là chị Phạm Thị H trình bày: Chị là vợ của anh Vũ Đình T. Ngày 29/12/2019, chị cùng chồng là anh T và anh T1 là công an viên của xã Hồng Khê đang ở trong nhà thì anh D và một số người thân đi xe mô tô đến nhà chị chửi bới. Chị đóng cổng lại để không cho anh D vào nhà, anh D đã cầm gạch ném vào nhà và sân nhà chị. Sau đó anh D dùng xe mô tô đâm thẳng vào cổng làm cánh cổng bật ra, lúc đó anh T đang đứng ở sân gần cánh cổng nên bị cánh cổng đập vào người khiến anh T ngã về phía sau bị thương tích. Chị và một số người đã đưa anh T đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Bình Giang, anh T điều trị 8 ngày thì được xuất viện. Trước đó, chị làm công nhân tại Xưởng Inox Đ, mức thu nhập là 200.000đ/ngày. Trong thời gian anh T điều trị tại Trung tâm y tế huyện, chị phải nghỉ việc để chăm sóc anh T. Tổng số ngày nghỉ là 8 ngày, thu nhập thực tế chị bị mất trong thời gian chăm sóc anh T là 8 ngày x 200.000đ/ngày = 1.600.000đ. Anh T phải có trách nhiệm bồi thường cho vợ chồng chị khoản tiền trên.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tại Công an xã Hồng Khê, huyện Bình Giang xác định: ngày 29/12/2019, khi đội sản xuất thôn Phú Bùi đang thực hiện việc nạo vét kênh mương trên cánh đồng thôn thì anh Vũ Đình T ra có những lời nói, hành động xúc phạm đến ông Lâm Đình H là Bí Thư, Trưởng thôn Phú Bùi, từ đó gây cản trở công việc của thôn. Ngay thời điểm đó, Công an xã Hồng Khê đã cử lực lượng đến hòa giải, ai về nhà đó. Sau đó, anh Lâm Trung D là con trai ông H đi xe mô tô đến nhà anh T, hai bên lời qua tiếng lại, một số người dân có mặt ở đó can ngăn, anh D đã lên xe mô tô chuẩn bị về thì anh T đứng ở trong sân vẫn có lời nói chửi bới anh D khiến anh D bức xúc, anh D đã điều khiển xe mô tô đâm vào cổng nhà anh T khiến chốt cổng bật ra, cánh cổng va vào người anh T làm anh T bị ngã ra phía sau. Xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Hồng Khê xác định: mức thu nhập bình quân của người dân tại địa phương là 140.000đ/ngày. Xác minh tại Xưởng Inox Đ (nơi chị Phạm Thị H làm việc) xác định: chị H có xin nghỉ trong thời gian từ ngày 29/12/2019 đến hết ngày 06/01/2020, thu nhập bình quân của chị H là 200.000đ/ngày. Xác minh tại Trung tâm y tế huyện Bình Giang thể hiện: Hồi 19 giờ 33 phút ngày 29/12/2019 Trung tâm có tiếp nhận bệnh nhân Vũ Đình T, điều trị đến ngày 06/01/2020 thì ra viện. Tổng chi phí điều trị của anh T tại Trung tâm là 1.941.805đ, ngoài chi phí nêu trên anh T không phải chịu bất kì khoản chi phí nào khác. Bác sỹ cũng không chỉ định anh T phải dùng loại thuốc nào khác ngoài các thuốc đã chỉ định trong hồ sơ bệnh án. Đối với 03 hóa đơn giá trị gia tăng và 17 hóa đơn bán lẻ của Công ty TNHH Dược phẩm Hạ Long mà anh T giao nộp cho Tòa án không phải những loại thuốc mà bác sỹ của Trung tâm chỉ định cho anh T phải dùng trong và sau khi nằm viện. Sau khi ra viện anh T đã bình phục, thời gian nghỉ ngơi tối đa sau khi ra viện là 07 ngày.

Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, thẩm quyền, nội dung theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng về trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng đều thực đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 584; 585; 586; 588; 590 Bộ luật dân sự. Khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 26 Luật thi hành án dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Đình T, buộc anh Lâm Trung D phải bồi thường cho anh Vũ Đình T số tiền 10.111.805đ. Anh Vũ Đình T được miễn án phí dân sự đối với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Anh Lâm Trung D phải chịu án phí sơ thẩm dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Ngày 29/12/2019, anh D có hành vi gây tương tích cho anh T. Ngày 01/10/2020, anh T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh D phải bồi thường thiệt hại do anh D đã có hành vi xâm phạm sức khỏe của anh. Do vậy quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm”. Anh D hiện cư trú tại xã Hồng Khê, huyện Bình Giang nên vụ án còn thời hiệu và thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân huyện Bình Giang theo quy định tại khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 588 Bộ luật dân sự.

Ngày 29/12/2019, xuất phát từ mâu thuẫn giữa ông Lâm Đình H và anh Vũ Đình T, anh Lâm Trung D là con đẻ ông H đã điều khiển xe mô tô đến nhà anh T, hai bên to tiếng với nhau, anh D cầm gạch ném vào sân nhà anh T thì được mọi người can ngăn, anh D ngồi lên xe mô tô định bỏ về thì anh T đứng ở trong sân vẫn có lời nói chửi bới anh D, anh D đã điều khiển xe mô tô đâm vào cổng nhà anh T khiến chốt cổng bật ra, cánh cổng đập vào người anh T làm anh T bị ngã ra phía sau bị thương tích phải điều trị tại Trung tâm y tế huyện Bình Giang từ ngày 29/12/2019 đến ngày 06/01/2020 thì ra viện. Bản kết luận giám định pháp y về thương tích của Phòng Giám định pháp y – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương kết luận anh T bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 01%. Ngày 01/6/2020, Công an huyện Bình Giang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh D về hành vi xâm phạm đến sức khỏe của anh T với mức phạt tiền 2.500.000đ. Như vậy có căn cứ xác định thương tích 01% của anh T là do hành vi trái pháp luật của anh D gây ra. Anh T khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là có cơ sở, phù hợp quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự.

Đối với yêu cầu bồi thường của anh T về chi phí hợp lý cho việc cứu chữa với số tiền là 21.018.000đ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Anh T bị thương tích phải điều trị tại Trung tâm y tế huyện Bình Giang từ ngày 29/12/2019 đến ngày 06/01/2020, lời khai của anh T, chị H phù hợp với nhau, phù hợp với hồ sơ bệnh án và kết quả xác minh tại Trung tâm y tế nên có căn cứ xác định thời gian anh T phải điều trị tại Trung tâm y tế là 8 ngày. Kết quả xác minh tại Trung tâm y tế huyện Bình Giang xác định tổng chi phí điều trị của anh T tại Trung tâm là 1.941.805đ, ngoài chi phí nêu trên anh T không phải chịu bất kì khoản chi phí nào khác. Bác sỹ cũng không chỉ định anh T phải dùng loại thuốc nào khác ngoài các thuốc đã chỉ định trong hồ sơ bệnh án. Do đó, có căn cứ chấp nhận chi phí hợp lý cho việc cứu chữa với số tiền là 1.941.805đ. Đối với 03 hóa đơn giá trị gia tăng và 17 hóa đơn bán lẻ của Công ty TNHH Dược phẩm Hạ Long mà anh T giao nộp cho Tòa án, đây không phải những loại thuốc mà bác sỹ của Trung tâm Y tế huyện Bình Giang chỉ định cho anh T phải dùng trong và sau khi nằm viện. Anh T trình bày các loại thuốc này, ngoài việc anh dùng theo chỉ định của bác sỹ Trung tâm y tế huyện Bình Giang còn do anh có người quen công tác tại Bệnh viện Quân y 108 nên sau khi ra viện anh lên đó khám, kiểm tra lại và được một bác sỹ Bệnh viện Quân y 108 chỉ định dùng, anh không nhớ tên bác sỹ và bác sỹ cũng chỉ chỉ định bằng miệng, không chỉ định bằng văn bản giấy tờ nên anh không có căn cứ về việc khám cũng như chỉ định của bác sỹ để giao nộp cho Tòa án. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận khoản chi phí này.

Đối với yêu cầu bồi thường của anh T về khoản thu nhập thực tế bị mất với số tiền là 90 ngày x 200.000đ/người/ngày = 18.000.000đ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Thời gian anh T phải điều trị tại Trung tâm y tế huyện Bình Giang là 8 ngày; sau khi ra viện, theo xác định của Trung tâm y tế huyện Bình Giang thì anh T đã bình phục, thời gian nghỉ ngơi tối đa là 7 ngày, do vậy Hội đồng xét xử xác định tổng thời gian điều trị và thời gian nghỉ ngơi để phục hồi sức khỏe của anh T là 15 ngày. Theo Biên bản xác minh tại UBND xã Hồng Khê thì thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương là 140.000đ/ngày. Như vậy, khoản thu nhập thực tế bị mất của anh T được chấp nhận là 15 ngày x 140.000đ/ngày = 2.100.000đ.

Đối với yêu cầu bồi thường của anh T về khoản thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc anh trong thời gian anh điều trị với số tiền là 8 ngày x 200.000đ/ngày = 1.600.000đ, Hội đồng xét xử thấy yêu cầu này của anh T phù hợp lời trình bày của chị Phạm Thị H (người chăm sóc anh trong thời gian điều trị), phù hợp với biên bản xác minh tại Trung tâm Y tế huyện Bình Giang và Xưởng Inox Đ (nơi chị H làm việc) nên có căn cứ để chấp nhận.

Đối với yêu cầu bồi thường của anh T về khoản tiền bù đắt tổn thất về tinh thần là 20 tháng lương x 1.210.000đ/tháng = 24.200.000đ. Hội đồng xét xử thấy rằng: Anh T bị thương tích 01%, thời gian điều trị là 7 ngày, sau khi ra viện anh T đã bình phục nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do anh T phải gánh chịu là 03 lần mức lương cơ sở x 1.490.000đ = 4.470.000đ.

Như vậy, tổng các khoản tiền bồi thường thiệt hại của anh T do sức khỏe bị xâm phạm được chấp nhận là: 1.941.805đ + 2.100.000đ + 1.600.000đ + 4.470.000đ = 10.111.805đ. Ngoài các khoản tiền anh T yêu cầu bồi thường thiệt hại như đã phân tích ở trên, anh T không yêu cầu bồi thường khoản thiệt hại nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Anh T yêu cầu bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm thuộc trường hợp được miễn án phí đối với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Anh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu của anh T được Tòa án chấp nhận theo quy định, số tiền án phí anh D phải chịu là 10.111.805đ x 5% = 505.590đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 584; 585; 586; 588; 590 Bộ luật dân sự. Khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 26 Luật thi hành án dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Đình T về yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

- Buộc anh Lâm Trung D phải bồi thường cho anh Vũ Đình T số tiền 10.111.805đ (Mười triệu, một trăm mười một nghìn, tám trăm linh năm đồng).

Kể từ ngày anh T có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền trên, nếu anh D chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo quy định tại Điều 357, Điều 468 BLDS.

- Về án phí: Anh Vũ Đình T được miễn án phí dân sự đối với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Anh Lâm Trung D phải chịu 505.590đ (Năm trăm linh năm nghìn, năm trăm chín mươi đồng) án phí sơ thẩm dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt anh Vũ Đình T, anh Lâm Trung D. Anh T, anh D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ