- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Cứ A S- Cứ A P"
- Tòa quyết gì? Các điểm d, đ khoản 1 điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Tuyên xử: 1.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/DS-ST Ngày 25- 9- 2020 V/v tranh chấp về yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T - TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: ông Trương Anh Tuấn
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Vớn, bà Lò Thị Hạnh
Thư ký phiên tòa: bà Lò Thị Thu - Thư ký TAND huyện T Đại diện VKSND huyện T tham gia phiên tòa: ông Lò Văn Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 09/2020/TLST- DS ngày 29 tháng 6 năm 2020 về việc: Tranh chấp về yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2020/QĐXXST- DS ngày 09/9/2020, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: anh Cứ A S – Sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn H, xã TST, huyện T, tỉnh Điện Biên. Có mặt 2. Bị đơn: anh Cứ A P – Sinh năm 2000; Địa chỉ: Thôn H, xã TST, huyện T, tỉnh Điện Biên. Có mặt 3. người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: + Chị Giàng Thị X – Sinh năm 1984; trú tại: Thôn H, xã TST, huyện T, tỉnh Điện Biên. Có mặt + Anh Cứ A M – Sinh năm 1986; trú tại: Thôn H, xã TST, huyện T, tỉnh Điện Biên. Có mặt 4. Những người làm chứng: + Anh Cứ A C – Sinh năm 1992; trú tại: Thôn H, xã TST, huyện T, tỉnh Điện Biên. Có mặt + Chị Giàng Thị D – Sinh năm 1990; trú tại: Thôn H, xã TST, huyện T, tỉnh Điện Biên. Có mặt 5. Người phiên dịch: ông Giàng A Dè – SN 1985, trú tại: Tổ dân phố Thành Công, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các văn bản trình bày ý kiến của nguyên đơn anh Cứ A S trình bày:
Vào khoảng 15 giờ ngày 22/4/2020 Nguyên đơn đang bừa ruộng tại thửa ruộng gần nhà Nguyên đơn thì thấy bị đơn mở đường lấy nước đi qua đất nhà Nguyên đơn để đưa nước vào ruộng nhà bị đơn; Do sợ đường nước chảy làm sạt lở đất nên Nguyên đơn không đồng ý và lấp, chặn đường nước lại, nhưng bị đơn vẫn cố tình tiếp tục làm, dẫn đến hai bên cãi nhau, bị đơn đã cầm 01 chiếc cào đánh 01 phát vào vai Nguyên đơn làm Nguyên đơn ngã xuống ruộng, sau đó Bị đơn tiếp tục dùng tay đánh Nguyên đơn tại ruộng, khi đó có chị Giàng Thị D và anh Cứ A C chứng kiến. Do bị đánh gây thương tích Nguyên đơn đã được gia đình đưa xuống trạm y tế xã TST điều trị, sang ngày 23/4/2020 thì chuyển xuống trung tâm y tế huyện T tiếp tục điều trị từ đến ngày 27/4/2020 thì ra viện.
Tại bệnh án ngoại khoa của Trung tâm y tế huyện T xác định: Nguyên đơn có nhiều vết xây xước da, sưng nề nhẹ, không chảy máu ở các vị trí: vai phải, mặt sau cánh tay phải trái, rãnh liên mông, hông trái.
Kết quả điều tra xác minh ban đầu xác định không có dấu hiệu hình sự, Công an xã TST, huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hai bên về hành vi đánh nhau, phạt mỗi người 750.000 đồng.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải bồi thường tổng số tiền 3.329.000 đồng, gồm: Tiền viện phí 929.000 đồng; Tiền mất thu nhập của Nguyên đơn trong 05 ngày nằm viện là 1.000.000 đồng; tiền công 01 người chăm sóc là 1.000.000 đồng; Tiền thuê xe mô tô đi điều trị, đi và về là 400.000 đồng.
Ngày 21/9/2020 nguyên đơn thay đổi yêu cầu, đề nghị Tòa án buộc Bị đơn phải bồi thường với tổng số tiền 2.629.000 đồng gồm: Tiền viện phí: 929.000 đồng; Tiền mất thu nhập của Nguyên đơn trong 05 ngày nằm viện: 05 ngày x 150.000 đồng/ngày = 750.000 đồng; Công chăm sóc của 01 người: 05 ngày x 150.000 đồng/ngày = 750.000 đồng; Tiền xăng xe đi lại: 02 xe x 02 lượt x 50.000 đồng/lượt/01xe = 200.000 đồng.
Tại văn bản ghi ý kiến của bị đơn Cứ A P trình bày: Ngày 22/4/2020 bị đơn đi mở đường nước từ mương đi qua đất nhà Nguyên đơn vào ruộng của gia đình, nhưng nguyên đơn không đồng ý nên giữa hai bên đã xảy ra cãi nhau, khi đó nguyên đơn đã cầm viên đá ném trúng lưng Bị đơn, do vậy Bị đơn có đánh nguyên đơn và Bị đơn không đồng ý với các yêu cầu bồi thường của nguyên đơn .
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Giàng Thị X, Cứ A M xác nhận việc Nguyên đơn đã bị Cứ A P đánh nên phải nằm viện và 02 người đã luân phiên chăm sóc Nguyên đơn trong thời gian điều trị.
Người làm chứng Giàng Thị D, Cứ A C có lời khai phù hợp với lời khai của nguyên đơn về việc bị đơn dùng 01 chiếc cào và dùng tay đánh nguyên đơn; người làm chứng không thấy Nguyên đơn dùng đá ném Bị đơn như lời khai của Bị đơn mà chỉ thấy sau khi bị đánh thì Nguyên đơn mới dùng 01 nắm đất, đá ném vào người Bị đơn.
Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu và trình bày gia đình Nguyên đơn thuộc diện hộ nghèo, thu nhập trung bình một năm của gia đình Nguyên đơn với 02 lao động khoảng 40.000.000 đồng/năm, mức yêu cầu trả tiền mất thu nhập Nguyên đơn tính theo giá trị 01 ngày công lao động đi làm thuê tại xã. Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng giữ nguyên ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ. Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, buộc Bị đơn phải bồi thường cho Nguyên đơn tiền viện phí 929.000 đồng, chi phí đi lại 200.000 đồng, tiền mất thu nhập của Nguyên đơn và 01 người chăm sóc, mỗi người là: 05 ngày x 55.000 đồng/người/ngày = 275.000 đồng, không chấp nhận số tiền mất thu nhập và công chăm sóc vượt quá thu nhập của Nguyên đơn, đề nghị miễn toàn bộ án phí cho Nguyên đơn, Bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Xuất phát từ việc Bị đơn Cứ A P mở đường dẫn nước đi qua đất nhà Nguyên đơn để đưa vào ruộng, nhưng Nguyên đơn không đồng ý do sợ sạt lở đất, dẫn đến hai bên cãi nhau và xảy ra xô sát; Bị đơn đã dùng 01 chiếc cào đánh 01 phát vào vai phải Nguyên đơn và dùng tay đánh nguyên đơn, làm cho Nguyên đơn bị thương tích phải đi bệnh viện chữa trị. Sự việc xảy ra có sự chứng kiến của 02 người làm chứng, tại lời khai của Bị đơn cũng thừa nhận có đánh nguyên đơn, kết quả xác minh của Công an xã đã làm rõ sự việc.
Bị đơn cho rằng Nguyên đơn là người đã ném đá vào Bị đơn trước nên Bị đơn đánh lại và Bị đơn không thừa nhận việc đánh bằng cào vào người Nguyên đơn, tuy nhiên Bị đơn không có chứng cứ chứng minh; Người làm chứng Giàng Thị D có chứng kiến Nguyên đơn dùng nắm đất, đá để ném vào người Bị đơn nhưng sự việc xảy ra sau khi Bị đơn đã đánh nguyên đơn; Hồ sơ bệnh án điều trị của Trung tâm y tế huyện T xác định Nguyên đơn bị nhiều vết sây xước do bị đánh và phải điều trị 05 ngày tại bệnh viện; Kết quả khám bệnh xác định Nguyên đơn có bị xây xước vùng vai phải, sưng nề nhẹ và phù hợp với vị trí đánh bằng chiếc cào theo ý kiến của Nguyên đơn và người làm chứng đã chứng kiến sự việc.
Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định Bị đơn đã dùng 01 chiếc cào và dùng tay đánh Nguyên đơn dẫn đến Nguyên đơn bị thương tích phải đi điều trị tại Trạm y tế xã và Trung tâm y tế huyện T trong thời gian từ ngày 22/4/2020 đến ngày 27/4/2020.
Bị đơn Cứ A P là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên phải chịu trách nhiệm dân sự do hành vi trái pháp luật của mình gây ra đối với Nguyên đơn và phải bồi thường toàn bộ các thiệt hại và chi phí hợp lý cho Nguyên đơn theo quy định tại Điều 585, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015. [2] Về mức yêu cầu bồi thường thiệt hại của Nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy:
Nguyên đơn phải đi điều trị và đã trả tiền viện phí, quá trình điều trị phải chi phí đi từ xã TST đến trung tâm y tế huyện T và ngược lại, Nguyên đơn và người chăm sóc bị mất thu nhập trong thời gian Nguyên đơn điều trị, Hội đồng xét xử chấp nhận các nội dung yêu cầu, tuy nhiên về mức bồi thường cụ thể cần xem xét phù hợp với chi phí, thu nhập thực tế tại địa phương, Hội đồng xét xử xác định như sau:
- Về chi phí điều trị: tại bảng kê chi phí điều trị của Trung tâm y tế huyện T, Nguyên đơn đã thanh toán là 929.000 đồng, đây là chi phí hợp lý nên Hội đồng xét xử chấp nhận cần buộc Bị đơn phải trả cho Nguyên đơn.
- Tiền phương tiện đi lại: 02 xe mô tô đưa Nguyên đơn và 01 người chăm sóc đi từ xã TST đến Trung tâm y tế huyện T và ngược lại, chi phí mỗi xe là 50.000 đồng/ lượt: 02 xe x 02 lượt x 50.000 đồng/lượt = 200.000 đồng. Xét số người đi và chi phí đi lại phù hợp với mức chi phí đi lại tại địa phương nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về tiền mất thu nhập của Nguyên đơn và 01 người chăm sóc trong thời gian 05 ngày điều trị mỗi ngày công là 150.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy: thu nhập thực tế của gia đình Bị đơn hàng năm gồm 02 vợ chồng khoảng 40.000.000 đồng/ năm, do đó thu nhập bình quân của 01 lao động mức 55.000 đồng/1người/1ngày, do đó yêu cầu của Nguyên đơn cao hơn mức thu nhập thực tế, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận và cần chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, buộc Bị đơn phải trả cho Nguyên đơn tiền mất thu nhập của nguyên đơn trong 5 ngày là 55.000 đồng/1ngày x 05 ngày = 275.000 đồng và tiền công chăm sóc của 01 người trong 05 ngày là 55.000 đồng/1 ngày x 05 ngày = 275.000 đồng.
Tổng cộng buộc Bị đơn phải bồi thường thiệt hại cho Nguyên đơn tổng số tiền là 1.679.000 đồng.
Không chấp nhận số tiền mất thu nhập và tiền công chăm sóc vượt quá mức thu nhập trung bình 01 ngày của gia đình Nguyên đơn (tổng số tiền không chấp nhận của 02 người là 950.000 đồng). [3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn đã được miễn nộp tạm ứng án phí, Bị đơn là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho Nguyên đơn và Bị đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 6 điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, điều 147 của bộ luật tố tụng dân sự;
- Các điều 584, 585, 586, 590, 357 của bộ luật dân sự năm 2015;
- Các điểm d, đ khoản 1 điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Tuyên xử: 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Cứ A S. Buộc Bị đơn Cứ A P phải bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn các khoản sau:
- Chi phí điều trị: 929.000 đồng;
- Thu nhập thực tế bị mất của Nguyên đơn trong thời gian điều trị: 275.000 đồng.
- Tiền công chăm sóc của 01 người chăm sóc Nguyên đơn trong thời gian điều trị là 275.000 đồng
- Tiền chi phí đi lại đưa Nguyên đơn và 01 người chăm sóc khi điều trị, gồm đi và về: 200.000 đồng.
Tổng cộng, buộc Bị đơn phải bồi thường cho Nguyên đơn tổng số tiền là:
1.679.000 đồng (một triệu sáu trăm bảy mươi chín nghìn đồng)
Kể từ ngày có quyết định thi hành án mà bị đơn không chịu trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại điều 357 của Bộ luật dân sự. 2. Không chấp nhận số tiền yêu cầu bồi thường mất thu nhập và tiền công chăm sóc vượt quá mức thu nhập trung bình của gia đình Nguyên đơn, tổng số tiền không chấp nhận đối với 02 người là 950.000 đồng. 3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho Nguyên đơn và Bị đơn.
4. Kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/9/2020).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - Các đương sự; - Chi cục THADS huyện; - Lưu: HSVS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Trương Anh Tuấn |