vanban.org

Bản án 04/2020/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Thái Bình Tuyên án 06/05/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/05/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ khoản 2 Điề u 308; Điề u 309 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự : Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị N, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 19/2019/DSST ngày 25/11/2019 của T…

Áp dụng Điều 147, 148, Điều 228, Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471; khoản 4, khoản 5 Điều 474; khoản 2 Điề u 476 Bộ luật Dân sự năm 2005; điể m đ khoả n 1 Điề u 12, khoản 4 Điề u 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/11/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. [1] Xử chấp nhận một … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 2 Điề u 308; Điề u 309 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự : Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị N, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 19/2019/DSST ngày 25/11/2019 của T…
  • Căn cứ chính? Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11; Bộ luật Dân sự và văn bản; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2020/DS-PT
Ngày 06/5/2020
V/v Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thị Thanh Bình

Các Thẩm phán: Ông Lưu Toàn Nghĩa

Bà Nguyễn Thị Lan Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sáng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 02/2020/TLPT-DS ngày 02 tháng 01 năm 2020 về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 19/2019/DS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình bị kháng nghị và kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 17/2020/QĐPT-DS ngày 28 tháng 02 năm 2020 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 02/2020/TB-TA ngà y 13/3/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Tiến D, sinh năm 1953; Nơi cư trú: thôn T, xã M, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1955; nơi cư trú: thôn T, xã M, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1975; Nơi cư trú: thôn Đ, xã M, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Phạm Hữu L – Luật sư Văn phòng Luật sư Phạm Hữu L và cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Thái Bình.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị N, sinh năm 1959; Người đại diện theo ủy quyền của bà Vũ Thị N: Ông Trần Tiến D, sinh năm 1953; Cùng cư trú: thôn T, xã M, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

4. Người làm chứng: Ông Nguyễn Đăng D - Nguyên Chủ tịch UBND xã M, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

5. Người kháng cáo: - Ông Trần Tiến D - Nguyên đơn

- Bà Nguyễn Thị N - Bị đơn

6. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình

(Ông Trần Tiến D , ông T, bà N, luậ t sư L có m ặt tại phiên tòa . Bà N, ông Nguyễn Đăng D vắ ng mặ t)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Nguyên đơn - ông Trần Tiến D trình bày: Từ trước năm 2015, ông thường mua vật liệu xây dựng tại bến bãi của vợ chồng bà Nguyễn Thị N, ông Bùi Văn T. Bà N và ông T có thành lập công ty TNHH Đ (do ông T làm Giám đốc). Năm 2015, công ty TNHH Đ nhận được công trình làm đường nông thôn mới tại xã M, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Vợ chồng bà N đã đặt vấn đề vay ông tiền để đầu tư xây dựng tại xã M. Ông đã cho bà N vay tiền nhiều lần, cụ thể:

- Khoản vay thứ nhất: Ngày 02/8/2015 (dương lịch) ông cho bà N vay số tiền là 780 triệu đồng, thời hạn vay 03 tháng, lãi suất tính theo lãi suất Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại chi nhánh xã T, huyện Đông Hưng. Hai bên đã làm văn bản vay nợ cùng nhau ký kết. Đến ngày 08/10/2015, bà N thông báo cho ông biết công trình nông thôn mới tại xã M đã hoàn thành nên bà N đã hai lần viết giấy ủy quyền để cho ông được nhận tiền trực tiếp từ UBND xã M, số tiền ghi trong giấy ủy quyền lần 01 ngày 08/10/2015 là 500.000.000 đồng, lần 02 ngày 01/01/2016 là 600.000.000 đồng. Qua ủy quyền của bà N, ông đã nhận tiền từ ông Nguyễn Đăng D (chủ tịch UBND xã M) gồm: ngày 25/12/2015 nhận 180.000.000 đồng; ngày 30/12/2016 nhận 240.000.000 đồng; ngày 24/01/2017 nhận 50.000.000 đồng; ngày 08/12/2017 nhận 20.000.000 đồng. Tổng số tiền ông Nguyễn Đăng D đã trực tiếp trả cho ông là 490.000.000 đồng, tuy nhiên, trong đó có 50.000.000 đồng là khoản tiền hoa hồng ông đã đưa trước cho ông Nguyễn Đăng D nếu ông Nguyễn Đăng D lấy giúp ông toàn bộ số nợ từ bà N, nhưng do ông Nguyễn Đăng D không thực hiện được thỏa thuận đó nên đã tự nguyện trả lại ông 50.000.000 đồng. Do vậy ông D xác định số tiền ông thực tế nhận từ ông Nguyễn Đăng D trừ vào khoản nợ của bà N là 440.000.000 đồng.

Như vậy, đến ngày khởi kiện 16/5/2019, bà N còn nợ ông số tiền gốc của khoản nợ này là 340.000.000 đồng (780.000.000 đồng – 440.000.000 đồng).

- Khoản vay thứ hai: Ngày 14/5/2015 (âm lịch) ông cho bà N vay 100.000.000 đồng và ngày 15/5/2015 (âm lịch) ông cho bà N vay tiếp 50.000.000 đồng. Thời hạn vay đều đến ngày 10/7/2015 (âm lịch), hai bên không thỏa thuận lãi suất trong hạn, còn lãi suất quá hạn thỏa thuận theo lãi suất ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Khoản vay này bà N chưa trả ông cả gốc và lãi.

- Khoản vay thứ ba: Ngày 26/10/2015 (âm lịch) ông cho bà N vay 50.000.000 đồng. Thời hạn vay đến ngày 28/10/2015 (âm lịch), hai bên không thỏa thuận lãi suất trong hạn, còn lãi suất quá hạn thỏa thuận theo lãi suất ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Khoản vay này bà N chưa trả ông cả gốc và lãi.

Ông khởi kiện yêu cầu bà N phải trả cho ông những khoản tiền sau:

- Đối với khoản vay ngày 02/8/2015: Ông yêu cầu bà N phải trả tiền nợ gốc là 340.000.000 đồng và tiền lãi theo cách tính:

Từ 02/8/2015 đến 02/11/2015, lãi suất trong hợp đồng 10%/1 năm theo quy định của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam: 780.000.000 đồng x 8,3%/tháng x 3 tháng = 19.422.000 đồng.

Từ ngày 02/11/2015 đến 25/12/2015, UBND xã M trả được 180.000.000 đồng. Đến ngày trả 180.000.000 đồng là tính lãi quá hạn 52 ngày (kể từ ngày 02/11/2015 đến ngày 25/12/2015) lãi suất quá hạn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam là 15%/1 năm quy ra lãi là 1,25%/tháng: 780.000.000 đồng x 1,25% x 1 tháng 22 ngày = 16.900.000 đồng

Từ ngày 26/12/2015 đến ngày 30/12/2016 tính là 12 tháng số tiền còn lại: 600.000.000 đồng x 1,25%/tháng x 12 tháng = 90.000.000 đồng

Từ ngày 30/12/2016 đến ngày 15/5/2019 là 28 tháng 15 ngày, lãi suất của 340.000.000 đồng x 1,25% x 28 tháng 15 ngày = 121.125.000 đồng

Tổng tiền lãi: 19.422.000 + 16.900.000 + 90.000.000 + 121.125.000 = 247.447.000 đồng.

Đến ngày 15/5/2019 số tiền gốc và tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn là: 340.000.000 + 247.447.000 = 587.447.000 đồng

- Đối với khoản vay ngày 14/5/2015 và 15/5/2015: Ông yêu cầu bà N phải trả tiền nợ gốc là 150 triệu đồng và tiền lãi quá hạn tính từ ngày 24/8/2015 (tức ngày 10/7/2015 âm lịch), mức lãi suất tính theo lãi suất quá hạn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam do hai bên đã thống nhất: 150.000.000 đồng x 1,25%/tháng x 44,5 tháng = 83.437.000 đồng. Tổng tiền gốc và lãi: 150.000.000 đồng + 83.437.000 đồng = 233.437.000 đồng.

- Đối với khoản vay ngày 26/10/2015: Ông yêu cầu bà N phải trả tiền nợ gốc là 50.000.000 đồng và tiền lãi quá hạn tính từ ngày 30/10/2015, mức lãi suất tính theo lãi suất quá hạn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam do hai bên đã thống nhất: 50.000.000 đồng x 1,25% x 42,5 tháng = 26.562.000 đồng. Tổng tiền gốc và lãi: 50.000.000 đồng + 26.562.000 đồng = 76.562.000 đồng

Như vậy tổng số tiền gốc và lãi của các khoản vay tính đến ngày 16/5/2019 là: 587.447.000 + 233.437.000 + 76.562.000 = 897.446.000 đồng.

Ông yêu cầu bà N phải trả tiền gốc và lãi phát sinh kể từ ngày 17/5/2019 đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm vụ án 21/11/2019 là 1.259.489.750 đồng.

* Bị đơn - bà Nguyễn Thị N trình bày: Năm 2014, Công ty TNHH Đ có nhận xây dựng thi công một số tuyến đường tại xã M, huyện Đông Hưng. Trong quá trình làm công trình bà cùng chồng là ông Bùi Văn T có vay tiền của ông Trần Tiến D nhiều lần, tổng các lần vay tiền là 485.000.000 đồng, ngày 26/10/2015 bà vay thêm 50.000.000 đồng. Tổng là: 535.000.000 đồng.

Ngày 02/10/2015, chồng bà là ông Bùi Văn T bị chết đột tử. Khoảng một tháng sau vợ chồng ông D có đến nhà bà bàn về việc trả nợ số tiền trên. Do không lấy được tiền từ công trình của xã M, bà nhờ vợ chồng ông D tìm cách lấy nợ từ UBND xã M để trả nợ cho vợ chồng ông D. Từ đó ông D đã soạn thảo các văn bản giấy tờ để đủ điều kiện lấy được tiền từ UBND xã M, bà đã ký vào các giấy tờ văn bản do ông D soạn, đồng thời bà ủy quyền cho ông D nhận tiền thanh toán công trình của vợ chồng bà tại xã M để trừ nợ. Ông D đã lấy được tiền từ ông Nguyễn Đăng D – Chủ tịch UBND xã M trả, tổng số tiền ông D đã trả cho D là 490.000.000 đồng. Hiện bà chỉ còn nợ ông D số tiền 45.000.000 đồng, bà đồng ý trả nợ ông D số tiền gốc đó và trả lãi theo quy định về lãi suất ngắn hạn của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt nam.

Bà không đồng ý với hợp đồng vay vốn ngày 02/8/2015 số tiền vay 780.000.000 đồng, vì thời gian ký hợp đồng đó vào năm 2016 chứ không phải năm 2015, số tiền không phải là 780.000.000 đồng, còn cụ thể bao nhiêu thì bà không nhớ. Thời điểm đó UBND xã M không trả tiền cho bà, bà không có tiền trả ông D, nên ông D đã bàn với bà sẽ đấu giá đất tại UBND xã M, khi UNBD xã M được trích lại 70% giá trị đất thì UBND xã M mới có tiền trả tiền công trình. Vì vậy ông D đã thảo văn bản và bà đã ký vào văn bản đó, cho nên khoản vay đó là không có thật. Trong hợp đồng ghi mỗi người giữ 01 bản nhưng ông D không giao cho bà bản chính nào.

Bà yêu cầu ông D phải nộp quyển sổ ghi nợ của ông D có chữ ký của vợ chồng bà thể hiện việc vay tiền giữa vợ chồng bà và ông D thì bà sẽ thanh toán theo số nợ đã ghi trong sổ vay.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – bà Vũ Thị N trình bày: Bà xác nhận lời trình bày của ông D về việc vợ chồng bà cho bà N ông T vay tiền là đúng. Ngoài ra, bà N còn vay riêng của bà 185.000.000 đồng (một trăm tám mươi triệu đồng), khoản vay này bà không cho ông D biết. Tại phiên tòa sơ thẩm bà đã nộp văn bản vay nợ và yêu cầu bà N phải trả nợ cho bà số tiền đó trong cùng vụ án này.

* Người làm chứng - ông Nguyễn Đăng D - nguyên Chủ tịch UBND xã M trình bày:

Ông xác định giữa ông và ông Trần Tiến D không giao kết, ký kết hay đầu tư làm ăn gì với nhau, lý do ông D nhờ ông lấy tiền từ Công ty TNHH Đ do bà Nguyễn Thị N làm giám đốc vì Công ty TNHH Đ có làm một số công trình nông thôn mới cho xã M. Ông không biết cụ thể việc vay nợ giữa ông D và bà N. Vì vậy, sau khi bà N rút tiền từ kho bạc và đưa cho ông nhờ trả cho ông Dg, ông đã đưa cho ông Dlà 490.000.000 đồng, ông D đã ký nhận, cụ thể: Ngày 25/12/2015, số tiền là 180.000.000 đồng; Ngày 30/12/2016, số tiền là 240.000.000 đồng; Ngày 24/01/2017, số tiền là 50.000.000 đồng; Tháng 4/2018, số tiền là 20.000.000 đồng.

Về hợp đồng ngày 02/8/2015 mà ông D xuất trình, ông Nguyễn Đăng D cho rằng Hợp đồng này ký ngày 02/8/2016 vì ngày 02/8/2016 ông D có đến nhà ông nhờ ông ký giúp một số giấy tờ nhưng ông nói không làm việc ở nhà riêng nên ông cùng ông D đến UBND xã M làm việc. Ông thấy hợp đồng này phù hợp với giấy cam kết ngày 02/8/2016.

Ngày 24/01/2019 ông D có đơn đề nghị, ngày 25/3/2019 ông đã có công văn trả lời ông D, có một nội dung là “Đơn đề nghị của bà Nguyễn Thị N, giám đốc công ty TNHH Đ gửi UBND xã M ngày 03/10/2016 đề nghị UBND xã khi có kinh phí thì trả cho công ty của bà, khi UNND xã trả, đã lấy hộ ông D số tiền theo thỏa thuận của bà N và ông D 70% số tiền ông D mua đất ở M 440.000.000 đồng như vậy theo đơn đề nghị, UBND xã M đã lấy giúp ông D và đã trả xong cho ông D”.

* Bản án số 19/2019/DSST ngày 25/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đã áp dụng: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471, Điều 474, Điều 476, Điều 478 của Bộ luật Dân sự năm 2005, quyết định:

1. Xử chấp nhận một phần yêu cầu của ông Trần Tiến D.

2. Buộc bà Nguyễn Thị N phải trả cho ông Trần Tiến D và bà Vũ Thị N gồm tiền gốc 490.000.000 đồng + tiền lãi 202.001.500 đồng = 692.001.500 đồng (Sáu trăm chín mươi hai triệu không trăm linh một nghìn năm trăm đồng).

Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết việc bà Vũ Thị N tại phiên tòa sơ thẩm yêu cầu bà Nguyễn Thị N trả nợ bà Nhụ 185.000.000 đồng (do vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu), bà N có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác.

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về án phí, tuyên nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

* Quyết định kháng nghị số 01/QĐKNPT-VKS-DS ngày 09/12/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình kháng nghị phúc thẩm đối với bản án số 19/2019/DS-ST ngày 25/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm vì bản án sơ thẩm đã vi phạm về thủ tục tố tụng, vi phạm về nội dung, cụ thể:

- Không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng chưa làm rõ các khoản ông D yêu cầu là do ông Dũng cho Công ty TNHH Đ vay hay cho vợ chồng bà N vay, hay cho cá nhân bà Nvay, mà đã quyết định buộc bà N phải có trách nhiệm trả nợ - vi phạm khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 47 và khoản 1 Điều 73 Luật Doanh nghiệp.

- Vi phạ m về thu thập chứng cứ: Các khoản nợ ngày 14/5/2015 và 15/5/2015 (âm lịch) và 26/10/2015, tính đến ngày Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng thụ lý là đã hết thời hiệu khởi kiện, nhưng Tòa án chưa làm rõ việc các bên đương sự có yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện không - vi phạm Điều 97; khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nộ i dung: Khoản vay ngày 02/8/2015 là khoản vay có kỳ hạn và có lãi, nhưng bản án đã không buộc bà N phải trả cho ông D khoản lãi trong hạn, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của ông D; Việc tính lãi quá hạn đối với khoản vay này không trừ đi số nợ gốc bị đơn đã trả qua từng thời kỳ, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà N - vi phạm Điều 474 Bộ luật Dân sự 2005 và Điều 4 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định về lãi, lãi suất.

* Ngày 02/12/2019, ông Trần Tiến D kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết buộc bà N phải trả ông tiền gốc còn lại chưa trả là 340.000.000 đồng và tiền lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn tính từ khi quá hạn đến ngày 30/12/2016 theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005 (150% x 9%/năm =1,125%/tháng); từ 01/01/2017 tính theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (20%/năm=1,66%/tháng).

* Ngày 05/12/2019, bà Nguyễn Thị N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại quyết định của bản án sơ thẩm về việc buộc bà trả cho ông D số tiền gốc và lãi là 692.001.500 đồng.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo và trì nh bày bổ sung: Lý do nguyên đơn chỉ xuất trình được bản photocoppy H ợp đồng vay tài sản ngày 02/8/2015 vì khi bà N không trả được nợ , đã hai lầ n là m “Giấ y ủ y quyề n” cho cho ông đượ c nhậ n tiề n từ UBND xã M , huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình, sau khi bà N viế t ủ y quyề n lầ n 2 vào ngày 01/01/2016, bà N đã yêu cầu ông giao lạ i bả n chí nh củ a “Hợ p đồ ng vay tiề n” cho bà N , bà N đã viết nội dung “bá c D chủ tịch xã M tr ả hộ 180.000.000” vào mặt sau hợ p đồ ng , sau đó chỉ giao cho ông bản photocoppy hợp đồng đó nên ông không cung cấ p bả n chí nh cho Tò a á n đượ c.

- Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trì nh bà y: Bà có ký vào “Hợp đồ ng vay vố n” do ông D đã soạ n thả o, mục đích khi lập hợp đồng là để tổng hợp các khoản vợ chồng bà đã vay của vợ chồng ông D trong năm 2015, bao gồ m cả số tiề n vay hai ngà y 14+15/5/2015 (âm lị ch ), số tiề n ghi trong hợ p đồ ng không phả i là 780.000.000 đồ ng, nhưng bà không nhớ chí nh xá c là bao nhiêu tiề n . Bà thừa nhận chữ viế t tạ i mụ c ngà y thá ng , đị a chỉ , chữ ký , chữ viế t dướ i mụ c đạ i diệ n bên B và chữ viế t mặ t sau củ a “Hợ p đồ ng vay vố n” do ông D xuấ t trì nh là do bà viế t . Bà N xác định vợ chồng bà chỉ vay ông Dũng 535.000.000 đồ ng, ông Nguyễ n Đăng D nguyên chủ tị c h UBND xã M đã trả cho ông D đượ c

490.000.000 đồ ng theo ủ y quyề n củ a bà , vì vậy bà chỉ còn nợ ông D 45.000.000 đồ ng tiề n gố c, bà nhất trí trả lãi quá hạn cho ông D theo lãi suất ngân hàng. Các khoản vay nợ vợ chồng ông D là do vợ chồng bà vay, không phải do công ty TNHH Đ vay, các khoản vay được đều không nhập quỹ công ty, không hạch toán tài chính công ty. Việc ghi trong một số văn bản giữa hai bên với nội dung cho công ty TNHH Đ vay, hoặc để giải quyết khó khăn cho công ty… là do ông D tự soạn thảo. Bà có đó ng dấu công ty vào một giấy vay nợ ngày 26/10/2015, mục đí ch để ông D yên tâm về việc trả nợ. Về số tiền bà ủy quyền cho ông D nhận từ UBND xã M, là khoản tiền vợ chồng bà hợp đồng thi công một số đường nhánh cấp 1 (giao thông nội đồng) với các thôn và đường tang cho xã, không phải là tiền từ thanh toán từ hợp đồng của Công ty TNHH Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng.

- Người đại diện của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, hủy bản án sơ thẩm vì vi phạm thủ tục tố tụng. Đề nghị xác đị nh số tiền bà N vay ông D là 600.000.000 đồng theo Giấy ủy quyền và Giấy cam kết trả nợ ngày 01/6/2016. Số tiền bà N đã trả ông D từ sau ngày 01/6/2016 là 310.000.000 đồng, vì vậy bà N còn nợ ông D là 290.000.000 đồng. Đề nghị xác đị nh khoản nợ này là của công ty TNHH Đ chứ không phải là khoản nợ của bà N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng và chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng tính lại lãi của các khoản nợ theo quy đị nh pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Quyết định kháng nghị số 01/QĐKNPT-VKS-DS ngày 09/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình ban hành trong thời hạn luật định là hợp lệ.

- Kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, vì vậy kháng cá o là hợp lệ, được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

- Về việ c vắ ng mặ t củ a đương sự tạ i phiên tò a : Bà Vũ Thị N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đạ i diện tham gia tố tụng. Ông Nguyễn Đăng D vắng mặt không có lý do, tuy nhiên các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp của đương sự đều đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy việc vắng mặt của những người trên không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228, Điều 229 Bộ luật Tố tụng Dân sự, quyết đị nh tiếp tục xét xử vụ án.

Về xác đị nh đương sự trong vụ á n:

Nguyên đơn, bị đơn đều xác định: Khi ông Bù i Văn T còn sống, các hợp đồng vay tà i sả n đã ký kế t giữ a ông D và bà N đều là các khoản vợ chồng ông D cho vợ chồ ng bà N vay, còn khoản vay ngày 26/10/2015 thời điểm đó ông T đã chế t thì vợ chồ ng ông D cho cá nhân bà N vay, không phả i cho công ty TNHH Đ vay.

Xét thấy: Theo cá c tà i liệ u chứ ng cứ Tò a á n cấ p phú c thẩ m thu thậ p bổ sung thì thấy: Công ty TNHH Đ đượ c cấ p Giấ y c hứ ng nhậ n đăng ký doanh nghiệ p công ty TNHH mộ t thà nh viên ngà y 15/5/2013, ngườ i đạ i diệ n theo phá p luậ t của công ty là ông Bùi Văn T - giám đốc. Ông T chế t ngà y 02/10/2015, không để lạ i di chú c . Theo cá c văn bả n thỏ a thuậ n phân c

hia di sả n thừ a kế (có công chứng ) ngày 20/11/2015 và ngày 15/6/2016 thì những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T (là vợ, mẹ đẻ và 2 con của ông T ) thỏa thuận nhường toàn bộ di sản mà ông T để lại (bao gồ m cả phầ n vố n thuộ c sở hữ u củ a ông T trong công ty TNHH Đ), cho bà Nguyễ n Thị N, bà N phải chịu trách nhiệm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do ông T để lại. Ngày 25/11/2015 Công ty TNHH Đ đượ c cấ p Giấ y chứ ng nhậ n đăng ký doanh nghiệ p công ty TNHH mộ t thà nh viên (đăng ký thay đổ i lầ n thứ nhấ t ), ngườ i đạ i diệ n theo phá p luậ t củ a công ty là bà Nguyễ n Thị N . Như vậ y, các khoản vay trước khi ông T chế t, đều không có chữ ký của ông T vớ i tư cách giám đốc công ty, không đó ng dấ u củ a công ty TNHH Đ, chỉ có chữ ký của bà N, đồ ng thờ i bà N xác nhận số tiền vay đó đều sử dụng vào việc kinh doanh chung của vợ chồng bà , vì vậy là khoản vay của vợ chồng ông T, bà N vớ i ông vợ chồ ng ông D bà N, không phả i là khoả n vay củ a công ty TNHH Đ. Khi ông T chế t, nhữ ng ngườ i thừ a kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T không hưở ng di sả n củ a ông T để lại nên không phải chịu trách nhiệm thực hiệ n nghĩ a vụ tà i sả n củ a ông T , vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm không đưa mẹ và hai con của ông T vào tham gia tố tụng là phù hợ p phá p luậ t . Đối với khoản vay ngày 26/10/2015, khi đó ông T đã chế t, bà N ký tên trong “Hợ p đồ ng cho vay tiề n” và đó ng dấ u công ty TNHH Đ, tuy nhiên khoả n tiề n vay cũ ng không nhân danh công ty để vay, không nhập vào quỹ công ty, không hạch toán tài chính của công ty , không sử dụ ng và o hoạ t độ ng kinh doanh củ a công ty, vì vậy xác đị nh khoả n vay đó là củ a cá nhân bà N vay vợ chồ ng ông D . Vì vậy không phả i đưa công ty TNHH Đ vào tham gia tố tụng trong vụ án.

Về thờ i hiệ u khở i kiệ n : Theo quy đị nh tạ i khoả n 2 Điề u 184 Bộ luậ t Tố tụng Dân sự thì Tòa á n chỉ á p dụ ng thờ i hiệ u khi có yêu cầ u củ a mộ t bên hoặ c cá c bên đương sự và yêu cầ u phả i đượ c đưa ra trướ c khi Tò a á n cấ p sơ thẩ m ra bả n á n , quyế t đị nh giả i quyế t vụ việ c . Hồ sơ vụ á n không có tà i liệ u thể hiệ n mộ t hoặ c cá c bên đương sự đề nghị Tò a á n á p dụ ng thờ i hiệ u . Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng thời hiệu trong quá trình giải quyết vụ án là đúng pháp luật.

Về áp d ụng pháp luật: Hợ p đồ ng vay tà i sả n giữ a nguyên đơn và bị đơn đượ c xá c lậ p trước ngày 01/01/2017 (trước khi Bộ luậ t Dân sự năm 2015 có hiệu lự c). Theo hướ ng dẫ n tạ i đi ểm c mục 1 và mục 3 Điều 2 Nghị quyết 01/2019 ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao (sau đây viế t tắ t là Nghị quyết 01/2019) thì:

“ c)… Hợp đồng đang được thực hiện mà lãi, lãi suất không phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14-6-2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết.

...

3. Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng có lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 hướng dẫn tại khoản 1 Điều này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Mức lãi suất thỏa thuận không vượt quá mức lãi suất giới hạn quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

b) Lãi, lãi suất theo thỏa thuận được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nhưng không được pháp luật trước ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành quy định.

c) Lãi, lãi suất, được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nhưng pháp luật trước ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành quy định khác.”.

Như vậ y, đố i vớ i cá c hợ p đồ ng vay tà i sả n giữ a nguyên đơn và bị đơn , đượ c xác lập trước ngày 01/01/2017 và không thuộc các trường hợp quy định tại mục 3 Điề u 2 Nghị quyết số 01/2019, vì vậy cần áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyế t tranh chấ p giữ a cá c đương sự trong vụ á n.

Xét các hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn và bị đơn:

Đối với Hợp đồng vay tài sản ngày 02/8/2015: Mặ c dù nguyên đơn chỉ cung cấ p đượ c bả n photocoppy “Hợ p đồ ng vay vố n” đề ngà y 02/8/2015 mà không cung cấ p đượ c bả n chí nh văn bả n đó , bị đơn lại không thừa nhận về thời gian ký kết hợ p đồ ng, về số tiề n vay tạ i bả n “Hợ p đồ ng vay vố n” mà nguyên đơn giao nộ p cho Tòa án, tuy nhiên, căn cứ và o lờ i trì nh bà y củ a bị đơn thì thấ y : Bà N trình bày hợp đồ ng lậ p ngà y 02/8/2016 mục đích để tổ ng hợ p cá c khoả n vợ chồ ng bà đã vay củ a vợ chồ ng ông D trong năm 2015, bao gồ m cả số tiề n vay hai ngà y 14/5/2015 và 15/5/2015 (âm lị ch), tổ ng số tiề n vay là 485.000.000 đồ ng, đồ ng thờ i bà vẫ n thừ a nhậ n khoả n vay ngà y 26/10/2015 số tiề n vay 50.000.000 đồ ng. Như vậ y, nế u đế n ngày 02/8/2016 mớ i tổ ng hợ p cá c khoả n vay củ a năm 2015 mà không tổng hợp cả khoản vay ngày 26/10/2015 là không hợp lý, vì khoản vay ngày 26/10/2015 có trước khi tổ ng hợ p . Hơn nữ a bà N cũng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh cho lờ i trì nh bà y củ a bà .

Mặ t khá c căn cứ và o cá c tà i liệ u chứ ng cứ ông nguyên đơn giao nộ p gồ m:

- “Giấy ủy quyền thanh toá n” ngày 08/10/2015 (bản chính) nội dung bà N ủy quyền cho ông D trực tiếp thanh toán với UBND xã M số tiền là 500.000.000 đồng (mặt sau viết: “25/12 đã nhận của chú D - Chủ tịch M 180.000.000đ, tổng số còn lại chuyển sang ủy quyền mới 600.000.000đ. Trần Tiến D”) (BL04);

- “Giấy ủy quyền” ngày 01/01/2016 (bản sao có chứng thực ) nộ i dung bà N ủy quyền cho ông D lấ y số tiền 600.000.000 đồ ng do UBND M còn nợ bà, đề nghị UBND xã M chuyển số ti ền 600.000.000 đồ ng và o tà i khoả n củ a ông D (mặt sau viết: “30/12/2016, chủ tịch UBND M trả 240.000.000đ. D đã nhận, ký tên; 24/1/2017 UBND M giao 50.000.000đ D đã nhận ký tên D” (BL05).

- “Giấy cam kết trả nợ tiề n vay” ngày 01/01/2016 (bản chính) nội dung bà N đã vay củ a ông D số tiền là 600.000.000 đồng, bà N ủy quyền cho ông D lấ y 600.000.000 đồ ng từ UBND xã M (BL06);

Các chứng cứ đó cho thấy : Ngày 08/10/2015 bà N ủy quyề n cho ông D nhậ n 500.000.000 đồ ng từ UBND xã M, sau khi ông D đã nhậ n đượ c 180.000.000 đồ ng theo ủ y quyề n đó , thì đến ngày 01/01/2016, bà N ủy quyền cho ông D tiếp tục được nhậ n 600.000.000 đồ ng từ UBND xã M và viết giấy cam kế t trả nợ ông D 600.000.000 đồ ng. Như vậ y cộng số tiề n ông D đã nhậ n 180.000.000 đồ ng và số tiề n bà N ủy quyền nhận tiếp 600.000.000 đồ ng là 780.000.000 đồng phù hợp với trình bày của ông D về việ c cho bà N vay 780.000.000 đồ ng. Mặ t khá c nế u bà N chỉ vay ông D tổ ng số 535.000.000 đồ ng như bà N trình bày thì bà không thể ủ y quyề n cho ông D nhậ n số tiề n lớ n hơn để trừ nợ .

Như vậ y từ cá c chứ ng cứ đã phân tí ch trên

, có đủ cơ sở xác định ngày 02/8/2015, bà N đã vay ông D 780.000.000 đồ ng, thờ i hạ n 03 tháng, lãi suất các bên thỏa thuận bằng lãi suất Ngân hàng. Đế n hạ n trả nợ , bà N chưa trả nợ ông D, sau đó đã ủ y quyề n cho ông D nhậ n tiề n từ UBND xã M để trừ vào nợ gố c củ a khoả n vay này.

Xét số tiền ông D đã nhận từ ông Nguyễn Đăng D, nguyên chủ tị ch UBND xã M thì thấy: Ông D thừ a nhậ n đã nhậ n từ ông Nguyễ n Đăng D 490.000.000 đồ ng, nhưng trong đó có 50.000.000 đồ ng là tiề n ông thỏ a thuậ n trả công cho ông Nguyễ n Đăng D nế u ông Nguyễ n Đăng D l ấy giúp ông hết số nợ của bà N , do không thự c hiệ n đượ c thỏ a thuậ n nên ông Nguyễ n Đăng D trả lại ông 50.000.000 đồng. Tuy nhiên ông D không có chứ ng cứ chứ ng minh đã giao cho ông

Nguyễ n Đăng D 50.000.000 đồ ng. Ông Nguyễ n Đăng D cũng không thừa nhận có thỏa thuận với ông D nộ i dung trên, không thừ a nhậ n đã nhậ n củ a ông D số tiề n 50.000.000 đồ ng, mà xác định số tiền 490.000.000 đồ ng là ông chuyể n tiề n của bà N trả nợ cho ông D , theo đề nghị củ a bà N. Vì vậy cần xác định toàn bộ số tiề n 490.000.000 đồ ng ông D đã nhậ n từ ông Nguyễ n Đăng D là tiền bà N trả nợ vào tiền gốc của hợp đồng vay ngày 02/8/2015 cho ông D.

Do đó cầ n buộ c bà N phải trả nợ cho ông D số tiề n gố c chưa trả là

290.000.000 đồ ng như quyế t đị nh củ a bả n á n sơ thẩ m là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về lã i suấ t trong hạ n : Do tại “Hợp đồng vay vốn” các bên chỉ thỏa thuận lãi suấ t trong hạ n bằ ng lã i suấ t Ngân hà ng , nhưng không thỏa thuận cụ thể là lãi suất của Ngân hàng nào , lãi suất quy định đối vớ i đố i tượ ng vay vố n nà o , vì vậy thuộc trườ ng hợ p có thỏ a thuậ n lã i nhưng không xá c đị nh rõ lã i suấ t. Cần áp dụng khoản 2 Điề u 476 Bộ luậ t Dân sự năm 2005 “Trong trườ ng hợ p cá c bên có thỏ a thuậ n về việ c trả lã i nhưng không xá c đị nh rõ lã i suấ t hoặ c có tranh chấ p về lã i suấ t thì á p dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nướ c công bố tương ứ ng vớ i thờ i hạ n vay tại thời điểm trả nợ” , buộ c bà N phải trả lãi suất trong hạn cho ông D theo mứ c lã i suấ t cơ bả n củ a Ngân hà ng Nhà nướ c công bố

(Quyế t đị nh số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân hàng Nhà nướ c Việ t Nam quy đị nh mứ c lã i suấ t cơ bả n là 9%/năm). (Ngân hà ng Nông nghiệ p và Phá t triể n nông thôn Việ t Nam không có quy đị nh về lã i suấ t cơ bả n , Tòa án cấp sơ thẩm nhận định và quyết định áp dụng “lã i suấ t cơ bản của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” là không chí nh xá c).

Số tiề n lã i suấ t trong hạ n

= 780.000.000 đồ ng x 9%/năm x 3 tháng = 17.550.000 đồ ng.

Lãi suất quá hạn : Áp dụng k hoản 5 Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005 “Trườ ng hợ p vay có lã i mà khi đế n hạ n bên vay không trả hoặ c trả không đầ y đủ thì bên vay phả i trả lã i trên nợ gố c và lã i nợ quá hạ n theo lãi xuất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tương ứ ng vớ i thờ i hạ n vay tại thời điểm trả nợ” để tí nh số tiề n lã i quá hạ n, theo số tiề n gố c củ a từ ng thờ i điể m bà Nhung cò n nợ .

Vì vậy cần buộc bà N phải trả lãi nợ quá hạn cho ông D như sau:

Từ ngà y 03/11/2015 đến 25/12/2015: 01 tháng 22 ngày: 780.000.000 đồng x 9%/năm x 01 tháng 22 ngày = 10.140.000 đồ ng.

Từ 26/12/2015 đến 30/12/2016: 01 năm 04 ngày: 600.000.000 đồ ng x 9%/năm x 01 năm 04 ngày = 54.600.000 đồ ng.

Ngày 31/12/2016 đến 24/01/2017: 25 ngày: 360.000.000 đồ ng x 9%/năm x 25 ngày = 2.250.000 đồ ng.

Từ 25/01/2017 đến 08/12/2017: 10 tháng 13 ngày: 310.000.000 đồ ng x 9%/năm x 10 tháng 13 ngày = 24.257.500 đồ ng.

Từ 09/12/2017 đến ngày xét xử sơ thẩm 25/11/2019: 01 năm 11 tháng 16 ngày: 290.000.000 x 9%/năm x 01 năm 11 tháng 16 ngày = 51.185.000 đồ ng.

Tổ ng số lã i quá hạ n tí nh đế n ngà y xé t sử sơ thẩ m là : 142.432.500 đồ ng.

Tổ ng cả gố c , lãi trong hạn , lãi quá hạn của khoản vay ngày 02/8/2015 là: 449.982.500 đồ ng.

Đối vớ i các Hợ p đồ ng vay tài sản ngày 14/5/2015; 15/5/2015; 26/10/2015:

Giấ y “Cam kế t” đề ngà y 15/5/2015, thể hiệ n nộ i dung : ngày 14/5/2015 (âm lịch) bà N vay ông D 100.000.000 đồ ng và ngà y 15/5/2015 (âm lịch), bà N vay ông D 50.000.000 đồng, hạn trả nợ đề u là n gày 10/7/2015 (âm lị ch); không thể hiệ n lã i suấ t trong hạ n và lã i suấ t quá hạ n ; “Hợ p đồ ng cho vay tiề n” đề ngày 26/10/2015 (các đương sự đều thừa nhận là ngày 26/10/2015 âm lịch), thể hiệ n nộ i dung bà N vay ông D 50.000.000 đồ ng, không thể hiệ n lã i suấ t trong hạ n và lã i suấ t quá hạ n ; Các hợp đồng này đều thể hiện dưới hình thức văn bản , do bà Nhung trự c tiế p ký tên bên vay. Bà N xác nhận có vay tiền ông D các khoản trên và đã trả nợ trong tổ ng số tiền 490.000.000 đồ ng ông Nguyễ n Đăng D đã chuyể n cho ông D . Tuy nhiên, như đã nhậ n đị nh trên , khoản tiền 490.000.000 đã đượ c tí nh trừ và o nợ gố c củ a số tiề n vay ngà y 02/8/2015. Do vậ y xá c đị nh bà N chưa trả ông D toàn bộ số tiề n gố c của các khoản vay này là 200.000.000 đồ ng. Trong quá trì nh giả i quyế t vụ á n , các đương sự đề u thỏ a thuậ n tí nh lã i quá hạ n theo lã i suấ t ngân hà ng . Căn cứ khoả n 4 Điề u 474 Bộ luậ t Dân sự năm 2005 “Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thỏa thuận”, vì vậy cầ n buộ c bà N phải trả nợ ông D số tiề n gố c và lã i quá hạ n như sau:

- Hợ p đồ ng ngà y 14/5/2015 (âm lịch) và ngày 15/5/2015 (âm lịch): Tiề n gố c vay: 150.000.000 đồ ng; Lãi quá hạn : từ 11/7/2015 (âm lịch) tứ c ngà y 24/8/2015 dương lị ch, đến ngày xét xử sơ thẩm 25/11/2019 là 04 năm 03 tháng 01 ngày: Lãi quá hạn = 150.000.000 đồ ng x 9%/năm x 04 năm 03 tháng 01 ngày = 57.412.500 đồ ng. ( án sơ thẩm tính thời gian chậm trả là 04 năm 04 tháng 25 ngày là không chính xác). Tổ ng cả gố c, lãi quá hạn của 2 khoản vay ngày 14/5/2015 và 15/5/2015 là: 207.412.500 đồ ng.

- Hợ p đồ ng ngà y 26/10/2015 (âm lịch), tức ngày 07/12/2015 (dương lịch): Tiề n gố c vay 50.000.000 đồ ng. Lãi quá hạn : từ 29/10/2015 (âm lịch) tứ c ngà y 10/12/2015 dương lị ch, đến ngày xét xử sơ thẩm 25/11/2019 là 03 năm 11 tháng 15 ngày: Lãi quá hạn = 50.000.000 đồ ng x 9%/năm x 03 năm 11 tháng 15 ngày = 17.812.500 đồ ng. (án sơ thẩm tính thời gian chậm trả là 04 năm 11 tháng 18 ngày là không chí nh xá c ). Tổ ng cả gố c , lãi quá hạn của khoản vay ngày 26/10/2015 là: 67.812.500 đồ ng.

Như vậ y, tổ ng số tiề n gố c, lãi trong hạn, lãi quá hạn của các khoản vay ngày 02/8/2015; 14/5/2015; 15/5/2015; 26/10/2015 bà N phải trả vợ chồng ông D là 725.207.500 đồ ng.

Từ nhữ ng phân tí ch, đá nh giá trên đây, Hộ i đồ ng xé t xử thấ y:

- Trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn về việc xác đị nh số tiền vay của bà N với vợ chồng ông D là 600.000.000 đồng, trừ đi số tiền đã thanh toán từ 01/01/2016 là 310.000.000 đồng, số tiền còn nợ là 290.000.000 đồng và khoản vay đó là của ông ty TNHH Đ vay chứ không phải khoản vay của cá nhân bà N. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bà N vẫn xác đị nh khoản vay của vợ chồng ông D là khoản vay của vợ chồng bà N, không liên quan đến công ty TNHH Đ; việc bà ủy quyền cho UBND xã M trả tiền cho ông D là từ khoản tiền UBND xã thanh toán các công trình đường cấp 1 và đường tang mà vợ chồng bà trực tiếp hợp đồng, thi công, chứ không thanh toán vào tiền công ty TNHH Đ thi công đường trục xã. Nội dung trình bày của bà N được chứng minh bởi xác nhận của UBND xã M do bà N giao nộp tại giai đoạn phúc thẩm. Vì vậy quan điểm của người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn tại phiên tòa không có cơ sở chấp nhận.

- Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng về

thủ tục tố tụng (Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ , đưa thiếu người tham gia tố tụng) tại thời điểm kháng nghị là có căn cứ, tuy nhiên, nộ i dung đó đã đượ c cấ p phúc thẩm khắc phục , làm rõ, vì vậy không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm như nội dung kháng nghị; Kháng nghị về việc cấp sơ thẩm không làm rõ về thời hiệu khở i kiệ n là không có căn cứ , nên không đượ c chấ p nhậ n ; Kháng nghị về nội dung bản án sơ thẩm không tính lãi tron g hạ n, không tí nh lã i quá hạn trên số nợ gố c cò n lại của từng thời kỳ sau khi bà N đã trả nợ - là có căn cứ, đượ c chấ p nhậ n.

- Kháng cáo của ông D về số tiề n nợ gố c bà N chưa trả , về việ c á p dụ ng phá p luậ t và về mứ c lã i suấ t á p dụ ng là không có căn cứ , không đượ c chấ p nhậ n.

- Kháng cáo của bà N về số tiề n gố c , lãi phải trả cho ông D (kháng cáo toàn bộ bả n á n ): Xét thấy, tòa án cấp sơ thẩm tính chưa đúng về thời gian chậm trả củ a các khoản nợ , không tính lãi trong hạn, tính chưa đúng về số nợ quá hạn của từng thờ i kỳ sau khi bà N đã trả được từng phần nợ gốc, vì vậy Tòa án cấp phúc thẩm xác đị nh lại số tiề n lã i củ a cá c hợ p đồ ng vay tà i sả n để đả m bả o quyề n và lợ i í ch hợ p pháp cho các đương sự. Do đó kháng cáo của bà N đượ c chấ p nhậ n mộ t phầ n.

Vì vậy, căn cứ khoả n 2 Điề u 308; Điề u 309 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự , chấ p nhậ n mộ t phầ n khá ng nghị củ a Việ n Kiể m sá t nhân dân huyệ n Đông Hưng

, chấ p nhậ n mộ t phầ n khá ng cá o củ a bà N , sử a bả n á n sơ thẩ m số 19/2019/DSST ngày 25/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình về lã i suấ t ; Không chấ p nhậ n khá ng cá o củ a ông D .

Về án phí:

- Do cấ p phú c thẩ m quyế t đị nh lạ i về quyề n và nghĩ a vụ củ a đương sự , vì vậy căn cứ khoả n 2 Điề u 148 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự , khoản 4 Điề u 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/11/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để xá c đị nh lạ i á n phí bà N phải chịu tương ứng với nghĩa vụ phải trả cho ông D

: (20.000.000 đồ ng + 4% (725.207.500 đồ ng – 400.000.000 đồ ng) = 33.008.300 đồ ng; Bà N không phả i chị u á n phí dân sự phú c thẩ m . Trả lại bà N tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà N đã nộp.

- Mộ t phầ n yêu cầ u khở i kiệ n củ a ông D không đượ c chấ p nhậ n , tuy nhiên ông D là ngườ i có công vớ i Cách mạng (ngườ i hoạ t độ ng khá ng chiế n bị nhiễ m chấ t độ c hó a họ c), do vậ y ông D đượ c miễ n án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoả n 1 Điề u 12 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ông D không phả i chị u á n phí dân sự phú c thẩ m , trả lại ông D tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông D đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điề u 308; Điề u 309 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự : Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị N, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 19/2019/DSST ngày 25/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình; Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Tiến D.

Áp dụng Điều 147, 148, Điều 228, Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471; khoản 4, khoản 5 Điều 474; khoản 2 Điề u 476 Bộ luật Dân sự năm 2005; điể m đ khoả n 1 Điề u 12, khoản 4 Điề u 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/11/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[1] Xử chấp nhận một phần yêu cầu khở i kiệ n của ông Trần Tiến D:

Buộc bà Nguyễn Thị N phải trả cho vợ chồ ng ông Trần Tiến D , bà Vũ Thị N số tiề n 725.207.500 đồ ng (Bẩ y trăm hai mươi lăm triệu hai trăm linh bẩy nghìn năm trăm đồng chẵn) gồm: tiền nợ gốc 490.000.000 đồng; tiền lãi 235.207.500 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (25/11/2019) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà N phải chịu 33.008.300 đồ ng án phí dân sự sơ thẩm.

[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông D, bà N không phả i chị u á n phí dân sự phúc thẩm. Trả lại ông D 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm ông D đã nộp tại Biên lai thu số 0008235 ngày 05/12/2019; Trả lại bà N 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm bà N đã nộp tại Biên lai thu số 0008237 ngày 05/12/2019 – Tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

[4] Các quyết đị nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại khoản 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 05/6/2020./.

Cỡ chữ