- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Lương Thanh X
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG XUÂN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2019/HSST Ngày 22/01/2019 Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Bà Lê Thị Tâm Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Tùng và bà Bùi Thị Ngọc Xuân Lê Thị Thanh Thủy - Kiểm sát viên thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2018/HSST ngày 13/12/2018; Quyết định cáo: Lương Thanh X, sinh năm: 1980 Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; Con ông Lương Văn Y (đã chết) và bà: Lang Thị N; Có vợ Lang Thị D và có 02 con, con lớn, sinh năm: 2001; con nhỏ, sinh năm: 2003; Tiền án; Tiền sự: Không. huyện TX, tỉnh Thanh Hóa (có mặt). +ng êi bµo ch÷a cho BỊ c¸o LƢƠNG THANH X. Bà Hà Thị Nhàn - Trợ giúp viên pháp lý của Chi nhánh trợ giúp số 6 – Thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hoá. (có mặt). + NGƢỜI BỊ HẠI: Anh Vi Văn Q, sinh năm: 1983 Trú tại: Thôn V, xã BM, huyện TX, tỉnh Thanh Hoá. (đề nghị xét xử vắng mặt). | Ngày 22 tháng 01 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân xét xử sơ đưa vụ án ra xét xử số 04/2019/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 01 năm 2019 đối với bị |
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 14/9/2018, Lương Thanh X đi từ nhà mình sang nhà anh Vi Văn Q, sinh năm: 1983, trú tại: Thôn V, xã BM, huyện TX cách khoảng 100 mét. Đến nhà anh Q, Lương Thanh X đi lên cầu thang nhà sàn lối sau mở cửa vào nhà anh Vi Văn Q chơi nhưng không có ai ở nhà và nhìn thấy rương gỗ ở đầu gường ngủ trên sàn nhà nên Lương Thanh X đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, X lấy một con dao nhọn để trên sàn khu bếp, gần vách gỗ và dùng mũi dao cậy bật đinh chốt khóa rương, mở ra thì thấy phía trên các tấm váy áo có một chiếc ví màu nâu đen. X mở ví ra thì thấy bên trong có tiền nên đã lấy hết số tiền có trong ví bỏ vào túi quần bên phải rồi đặt chiếc ví lại chỗ cũ đóng nắp rương lại. Sau đó X đi bộ về nhà lấy số tiền vừa trộm cắp ra đếm được 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng), rồi cất giấu bên trong rương gỗ của nhà mình. Đến tối ngày 20/9/2018, X đã mang toàn bộ số tiền mà mình đã trộm cắp được để lại trên mặt sàn gỗ cạnh vòi nước sinh hoạt nhà anh Q để trả lại, anh Q đã nhận lại toàn bộ số tiền 7.500.000đ(bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Ngày 24/9/2018, Lương Thanh X đến Công an xã BM để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 con dao có tổng chiều dài 44,5cm, phần cán dài 14cm có bọc kim loại hai đầu; thân dao dài 30,5cm, loại dao một lưỡi sắc, mũi dao nhọn, cán dao có khắc chữ “ À”, là công cụ thực hiện tội phạm nên tiếp tục thu giữ.
Tại bản cáo trạng số 01/CT - VKSTX ngày 12/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân truy tố Lương Thanh X về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lương Thanh X phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo: Lương Thanh X từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn ) tháng.
Về phần bồi thường dân sự: Người bị hại đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu gì thêm. Về xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
* Người bào chữa cho bị cáo Lương Thanh X có quan điểm bào chữa cho rằng: Đồng ý với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc diện hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn, quá trình điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khắc phục hậu quả. Sau khi phạm tội bị cáo X đã đến Công an xã BM đầu thú. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS tuyên phạt bị cáo mức án cải tạo không giam giữ.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với đại diện viện kiểm sát.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Thường Xuân, Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lương Thanh X không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đã tiến hành đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân đã truy tố.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 11 giờ ngày 14/9/2018, Lương Thanh X đã trộm cắp số tiền là 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng), của anh Vi Văn Q, tại Thôn V, xã BM, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
. Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án thuộc trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục và phòng ngừa chung.
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Lương Thanh X đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản trong việc quản lý tài sản đã lén lút trộm cắp 7.500.000đồng. Hành vi trên của bị cáo đã cấu thành đầy đủ tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật tuyên phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương ứng với tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo.
. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ:
- Nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
- Tình tiết tăng nặng: Không.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo khắc phục hậu quả cho người bị hại, sau khi phạm tội bị cáo Xuân ra đầu thú; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
. Xét tính chất vụ án; hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là không cần thiết, mà áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo vẫn đủ giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục.
. Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại đã nhận đủ tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
* Về xử lý vật chứng:
Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/12/2018 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thường Xuân với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thường Xuân. Gồm có: 01 con dao là công cụ dùng vào việc phạm tội, vật không có giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu và tiêu hủy.
* Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Lương Thanh X
Phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt: Lương Thanh X 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng. Thời gian thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (22/01/2019). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã BM, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.“Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu nên miễn xét.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01con dao. Vật chứng có đặc điểm mô tả theo biên bản giao nhận ngày 17/12/2018 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Thường Xuân và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
-Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều
21; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”. Buộc bị cáo Lương Thanh X phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Lương Thanh X được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/01/2019); Người bị hại anh Vi Văn Q được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
TM: HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND huyện TX; - Công an huyện TX; - Chi cục THADS huyện T X; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Người bị hại; - Lưu HSVA. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Lê Thị Tâm |