- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đình T phạm tội trộm căp tài sản theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số: 04/2019/HSST Ngày 25-01-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Nguyễn Hoài Phương và ông Lê Văn Lượng.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đình Hưng – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Viết Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2019/HSST ngày 09 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:
Trần Đình T, sinh năm 1982 tại Thành phố H; trú tại: Tổ 1, P, Phường V, thị xã S, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Đình L và bà Nguyễn Thị N; Bị cáo chưa có vợ và con; tiền án: 01, ngày 31-3-2010 Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 10 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản và cướp giật tài sản” tại Bản án số 44/2010/HSPT; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10-5-2002 Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây (cũ), xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 24/2002/HSST; ngày 06-9-2005 Tòa án nhân dân Thành phố Đà Lạt xử phạt 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đều đã được xóa án tích; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 31-10-2018 - có mặt
Bị hại: Anh Dương Văn T và chị Nguyễn Thị T, cùng địa chỉ: Bon N’ (thôn 3A cũ), xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt
- Người làm chứng: Anh Đinh Sỹ L, địa chỉ: Bon N’ (thôn 3A cũ), xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.
Anh Phạm Văn H, địa chỉ: Bon N’ (thôn 3A cũ), xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 15-10-2018, T (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) gọi điện thoại rủ Trần Đình T đi bắt trộm chó bán lấy tiền tiêu xài thì Trần Đình T đồng ý. Sau đó T đưa cho Trần Đình T một bộ kích điện (gồm: 01 bình ắc quy, bộ kích, dây điện, một cần sắt có một đầu nối dây thòng lọng) rồi T điều khiển xe mô tô (loại xe Sirius, màu đỏ-đen, không rõ biển kiểm soát) chở Trần Đình T từ thị xã G, tỉnh Đắk Nông đi đến địa bàn xã Q, huyện Đ để trộm cắp tài sản.
Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 16-10-2018, T và Trần Đình T đi đến đoạn đường liên thôn thuộc bon N’, xã Q, huyện Đ thì nhìn thấy 01 con chó (loại chó đực, lông khoang màu đen - trắng, trọng lượng 11kg) của anh Dương Văn T (sinh năm 1980) đang đứng trước cổng nhà anh T nên T dừng xe lại để Trần Đình T đi đến bắt con chó. Tuy nhiên do chó sủa nhiều nên Trần Đình T không giám bắt chó mà quay lại chỗ T đứng nói chuyện.
Nghe tiếng chó sủa nên anh Đinh Sỹ L (sinh năm 1976, là hàng xóm của anh Dương Văn T) tỉnh dậy, đi ra ngoài thì thấy T và Trần Đình T đang đứng nói chuyện. Do nghi ngờ T và Trần Đình T bắt trộm chó nên anh Đinh Sỹ L gọi điện cho anh Dương Văn T và anh Phạm Văn H (sinh năm 1976, là hàng xóm) để tổ chức bắt trộm.
Đứng nói chuyện với T được một lúc, Trần Đình T đi đến vị trí con chó của anh Dương Văn T, dùng cần sắt có dây thòng lọng quàng vào cổ con chó rồi kéo con chó đi thì bị anh Dương Văn T, anh Đinh Sỹ L và anh Phạm Văn H nhìn thấy và tri hô nên T và T lên xe mô tô bỏ chạy. Tuy nhiên do T điều khiển xe chạy nhanh nên T bị ngã xuống đất và bị anh Dương Văn T, anh Đinh Sỹ L và anh Phạm Văn H bắt giữ, còn T chạy thoát.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong, Trần Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong còn xác định được vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 16-10-2018 tại đoạn đường Quốc lộ 28B thuộc thôn Q, xã Q, huyện Đ, T và Trần Đình T đã bắt trộm được 01 con chó (lông màu xám, nặng khoảng 10 kg) đang đi trên đường (không xác định được chủ sở hữu của con chó), bỏ con chó vào trong bao tải rồi để trước khung xe rồi mới đi bắt trộm con chó của anh Dương Văn T. Khi bị anh Dương Văn T, anh Đinh Sỹ L và anh Phạm Văn H phát hiện, Tèo điều khiển xe mô tô bỏ chạy đã chở theo con chó này. Đến khu vực bến xe khách xã Q, T đã làm rơi bao tải đựng con chó xuống đường. Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 16-10-2018, bà Hoàng Thị H (sinh năm 1969, trú tại: Bon R’, xã Q, huyện Đ) thức dậy phát hiện con chó trong bao tải nên đã xích con chó vào gốc cây nhà mình. Đến 16 giờ cùng ngày, bà Hoàng Thị H phát hiện xích đã bị tuột còn con chó đi đâu không rõ. Do đó không đủ căn cứ để xử lý Trần Đình T về hành vi trộm cắp con chó này.
Tại Kết luận định giá tài sản ngày 26-10-2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đắk Glong kết luận: 01 con chó (loại chó đực, lông khoang màu đen - trắng, trọng lượng 11kg) có giá trị là 660.000 đồng;
* Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã thu giữ: 01 bộ kích điện (gồm: 01 bình ắc quy, bộ kích điện, dây điện, một cần sắt có một đầu nối dây thòng lọng); 01 bao tải (loại bao xác rắn màu xanh, kích thước 110cm x 60cm); 01 điện thoại di động (nhãn hiệu Nokia, màu xám tro, loại 1202) của Trần Đình Thắng.
Đối với 01 con chó (loại chó đực, lông khoang màu đen - trắng, trọng lượng 11kg) thấy không cần thiết phải tạm giữ nên ngày 16-10-2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk Glong đã lập biên bản tạm giao con chó cho anh Dương Văn T. Đến ngày 13-11-2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk Glong đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 36 trả con chó cho anh Dương Văn T.
* Về trách nhiệm dân sự:
Anh Dương Văn T đã nhận lại con chó nên không yêu cầu Trần Đình T bồi thường thiệt hại.
Bị cáo Trần Đình T đã tự nguyện nộp số tiền 1.000.000 đồng để bồi thường cho anh Dương Văn T. Số tiền này hiện đang được gửi tại tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong.
Bản cáo trạng số 06/CTr-VKS ngày 07 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Trần Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố đối với bị cáo là đúng, không oan.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 03 đến 05 tháng tù.
Về các biện pháp tư pháp: Chấp nhận ngày 11-11-2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã ra các Quyết định xử lý vật chứng số 36 trả lại trả con chó cho anh Dương Văn T là chủ sở hữu hợp pháp; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động (nhãn hiệu Nokia, màu xám tro, loại 1202) của Trần Đình T; tịch thu tiêu hủy 01 bộ kích điện (gồm: 01 bình ắc quy, bộ kích điện, dây điện, một cần sắt có một đầu nối dây thòng lọng); 01 bao tải (loại bao xác rắn màu xanh, kích thước 110cm x 60cm).
Về trách nhiệm dân sự: Anh Dương Văn T không yêu cầu Trần Đình T bồi thường thiệt hại, bị cáo T tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho anh T số tiền 1.000.000đ .
Bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận về hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Glong, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Các chứng cứ buộc tội và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ pháp lý qua đó xác định: Khoảng 02 giờ 45 phút, ngày 16-10-2018, tại Bon N’, xã Q, huyện Đ Trần Đình T đã lén lút chiếm đoạt của gia đình anh Dương Văn T 01 con chó (loại chó đực, long khoang màu đen – trắng, trọng lượng 11 kg) trị giá 660.000đ. Bị cáo có 01 tiền án về tội Cướp tài sản và cướp giật tài sản, chưa được xóa án tích, Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
…
b), Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của gia đình anh Dương Văn T. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 10-5-2002 Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây (cũ), xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 24/2002/HSST; ngày 06-9-2005 Tòa án nhân dân Thành phố Đà Lạt xử phạt 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đều đã được xóa án tích; ngày 31-3-2010 Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 10 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản và cướp giật tài sản” tại Bản án số 44/2010/HSPT, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07-8-2018, chưa được xóa án tích, lẽ ra bị cáo phải lấy các lần phạm tội đó làm bài học cho bản thân, tuy nhiên bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội, xét thấy giá trị tài sản trộm cắp là 660.000đ, do đó bị cáo phải chịu tình tiết định tội theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để giáo dục răn đe bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; người bị hại không yêu cầu bồi thường nhưng bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho bị hại, gia đình bị cáo có ông nội là Trần Văn L; bà nội là Trần Thị L được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, hạng Ba, huy hiệu 45, 55 năm tuổi Đảng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. HĐXX xét thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự xử bị cáo dưới khung hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc truy tố bị cáo và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở, HĐXX sẽ xem xét.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo tự nguyện bồi thường cho gia đình anh Dương Văn T số tiền 1.000.000đ.
[6]. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự : Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động (nhãn hiệu Nokia, màu xám tro, loại 1202) của Trần Đình T; tịch thu tiêu hủy 01 bộ kích điện do bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tôi; 01 bao tải do không còn giá trị sử dụng (đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 10-01-2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đắk Glong và chi cục THADS huyện Đắk Glong).
Chấp nhận ngày 11-11-2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã ra các Quyết định xử lý vật chứng số 36 trả lại trả con chó cho anh Dương Văn T là chủ sở hữu hợp pháp nên không đề cập.
Đối với đối tượng tên Tèo cùng tham gia thực hiện hành vi trộm cắp với bị cáo Thắng và hành vi trộm cắp 01 con chó (lông màu xám, nặng khoảng 10 kg) tại thôn Q, xã Q, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đang tiếp tục điều tra, xác minh khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp nên không đề cập.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Đình T 03 (ba) tháng tù, tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 31-10-2018.
2. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo tự nguyện bồi thường cho gia đình anh Dương Văn T số tiền 1.000.000đ (đang tạm gửi tại tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông).
3. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động (nhãn hiệu Nokia, màu xám tro, loại 1202) của Trần Đình T; tịch thu, tiêu hủy 01 bộ kích điện và 01 bao tải do không còn giá trị sử dụng (đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 10-01-2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong và chi cục THADS huyện Đắk Glong).
4. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Glong; - Công an huyện Đắk Glong; - Bộ phận hồ sơ CA huyện Đắk Glong; - Chi cục THADS huyện Đắk Glong; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu . CÁC HỘI THẨM | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đỗ Văn Thành HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA |