- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Tùng Dƣơng phạm tội: Cố ý gây thương tích.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Quyết định số 326/2006/QĐ-UBND Về việc ban hành quy định về…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2019/HS-ST Ngày 19-4-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lường Thị Phẩm
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Quang Huy
2. Bà Hoàng Thị Thanh Tú
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Thị Quỳnh, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Âu Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên
Trong ngày 19 tháng 4 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2019/HSST, ngày 26 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:
ĐINH QUANG L, sinh năm 1979; Nơi đăng ký thường trú và nơi ở: Thôn Bản P, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Quang Ph và bà Hà Thị I; Có vợ là Nguyễn Thị H (đã ly hôn); có 01 con; Tiền án: 02. Ngày 03/12/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng xử phạt 24 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản; Ngày 29/12/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xử phạt 09 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản, đến ngày 18/6/2018 chấp hành xong trở về địa phương sinh sống; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2019 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1962; Địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 06/12/2018 Đinh Quang L một mình đi bộ từ nhà ra ngoài đường liên thôn để đón xe đi đến thôn S, xã N, huyện C, thì gặp ông Nguyễn Văn L1 đang điều khiển xe mô tô theo hướng từ thôn T1, xã T ra thôn S, xã N nên L hỏi ông L1 cho đi nhờ thì được ông L1 đồng ý. Ông L1 điều khiển xe đi đến khu vực thuộc thôn X, xã N, huyện C thì điện thoại của ông L1 đổ chuông, ông L1 vừa điều khiển xe, vừa dùng tay trái rút điện thoại di động trong túi quần trái đang mặc ra để nghe. L ngồi đằng sau xe thấy chiếc ví để trong túi quần trái của ông L1 thò ra liền nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc ví. Lợi dụng lúc ông L1 đang nghe điện thoại, không để ý, L đã lén lút dùng tay trái rút lấy chiếc ví trong túi quần của ông L1 rồi đút vào trong túi quần trái của mình đang mặc. Ông L1 điều khiển xe đi được một lúc thì phát hiện bị mất chiếc ví ở trong túi quần nên dừng xe lại và hỏi L có lấy chiếc ví hay không thì L không thừa nhận, đồng thời bỏ chạy. Thấy vậy ông L1 truy hô và cùng mọi người đuổi bắt được Lê rồi đưa về trụ sở Ủy ban nhân dân xã N. Tại đây L thừa nhận hành vi đã lén lút trộm cắp chiếc ví từ trong túi quần của ông Lâm và giao nộp chiếc ví bên trong có số tiền 274.000đ, 01 giấy phép lái xe, 01 đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn L1. Công an xã N đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong số tang vật trên và chuyển hồ sơ cùng tang vật đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Mới giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 02/01/2019 Công an huyện Chợ Mới yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chợ Mới tiến hành định giá đối với chiếc ví giả da cũ màu nâu là tang vật của vụ án.
Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 03/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Chợ Mới kết luận: Chiếc ví giả da cũ màu nâu tại thời điểm bị chiếm đoạt có trị giá là 36.000đ.
Sau khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của ông Nguyễn Văn Lâm, trong thời gian được tại ngoại L đi khỏi địa phương, Công an huyện Chợ Mới ra Quyết định truy nã số: 03 ngày 21/01/2019, đến ngày 30/01/2019 bị Công an phường Yên Nghĩa, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội bắt theo Quyết định truy nã nêu trên.
Quá trình điều tra L: Sau khi trộm cắp chiếc ví của ông L1, biết mình đã vi phạm pháp luật nên bỏ trốn xuống Hà Nội, đến ngày 30/01/2019 thì bị bắt giữ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá tài sản huyện Chợ Mới.
Tổng trị giá tài sản do Đinh Quang L trộm cắp là 310.000đ (Ba trăm mười nghìn đồng). Tuy nhiên trước đó bị cáo đã có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, đến ngày 06/12/2018 chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, vì vậy tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Tại bản Cáo trạng số 03/CT - VKSCM ngày 24/3/2019 truy tố bị cáo Đinh Quang L về tội “Trộm cắp tài sản” và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:
- Đinh Quang L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51/BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Xử phạt bị cáo Đinh Quang L từ 12 đến 18 tháng tù, được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam.
- Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị hại Nguyễn Văn L1 không yêu cầu bồi thường đối với bị cáo, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 135; 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2006/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Mới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay bị hại Nguyễn Văn L1 vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của bị hại không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án, đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Ngày 06/12/2018 Đinh Quang L đi nhờ xe mô tô của ông Nguyễn Văn L1 từ địa phận xã T1 đến khu vực thôn S, xã N, huyện C đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc ví giả da ở trong túi quần ông L1 đang mặc, trong ví có số tiền 274.000 VNĐ. Chiếc ví giả da tại thời điểm L trộm cắp có trị giá là 36.000 VNĐ. Tổng giá trị tài sản Đinh Quang L đã trộm cắp là 310.000VNĐ (Ba trăm mười nghìn đồng). Mặc dù tài sản L trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000đ, nhưng do trước đó bị cáo đã có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, đến ngày 06/12/2018 chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài tài sản là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều luật có nội dung:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
…
b, Đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi pham".
Xét Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, cần được xử lý bằng pháp luật hình sự.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức được hành vi của mình, có nhân thân xấu, biết trộm cắp tài sản là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp đã trốn khỏi địa phương nhằm trốn tránh pháp luật, gây khó khăn cho cơ quan điều tra. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS đó là "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải". Ngoài ra bị cáo có bố đẻ là Người có công, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, vì vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51/BLHS.
Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xét thấy cần có mức hình phạt phù hợp và cần phải cách ly bị cáo để cải tạo, giáo dục nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Về vật chứng trong vụ án: Ngày 20/02/2019, Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Mới đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại toàn bộ vật chứng cho chủ sử hữu là ông Nguyễn Văn L1 gồm: 01 chiếc ví giả da màu nâu đã cũ; 274.000 đồng; 01 Giấy phép lái xe mô tô mang tên Nguyễn Văn L1; 01 đăng ký xe máy mang tên Nguyễn Văn L1
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường đối với bị cáo, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QuyÕt ®Þnh:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015:
1. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Quang L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Đinh Quang L 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (31/01/2019).
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135,136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2006/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Bị cáo Đinh Quang L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại. Báo cho biết bị cáocó quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- TAND tỉnh Bắc Kạn;
- VKSND tỉnh Bắc Kạn;
(Đã ký)
- Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Kạn;
- VKSND huyện Chợ Mới;
- Công an huyện Chợ Mới;
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới;
- Sở Tư pháptỉnh Bắc Kạn;
- Bị cáo, bị hại;
Lƣờng Thị Phẩm
- Lưu hồ sơ vụ án, VT.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Triệu Giang, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 01 năm 2019, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2018/HSST, ngày 13 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2018 và Quiyết định hoãn phiên tòa số: 01/2019/HSST-QĐ ngày 23/01/2019 đối với bị cáo:
Phạm Tùng Dƣơng, sinh năm 1998; Nơi sinh và nơi đăng ký NKTT: Thôn Nà Mẩy, xã Nông Hạ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Phạm Văn Uyên và bà Nguyễn Thị Minh Duyên.Chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/10/2018 đến 15/10/2018 thì tạm giam đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Phạm Minh Sơn, sinh năm 1997; Địa chỉ: Tổ 3, thị trấn Chợ Mới, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, có mặt tại phiên tòa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Huỳnh Phương Nam - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
1. Hoàng Quốc Hùng, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn Nà Mố, xã Yên Đĩnh, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
2. Nguyễn Quý Nam, sinh năm 1994, địa chỉ: Trung đoàn 246, Sư đoàn 346, Quân khu I, vắng mặt.
3. Nguyễn Hải Quang, sinh năm 1999, Tổ 5, thị trấn Chợ Mới, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, có mặt tại phiên tòa.
4. Hoàng Xuân Tùng, sinh năm 1995, địa chỉ: Thôn Nà Khon, xã Yên Đĩnh, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
5. Nguyễn Quang Anh, sinh năm 2000, địa chỉ: Thôn Suối Hón, xã Yên Đĩnh, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, có mặt tại phiên tòa.
6. Dương Khánh Tùng, địa chỉ: Thôn Đồng Đình, xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 18/02/2018, Phạm Minh Sơn và Nguyễn Quang Anh nhắn tin qua điện thoại với nhau về việc mâu thuẫn giữa Nguyễn Quang Anh và người yêu của Sơn là Hoàng Thị Ánh Dương (SN: 2000), trú tại xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Trong khi nói chuyện đã xảy ra mâu thuẫn nên cả hai hẹn nhau lên ngã ba Yên Đĩnh thuộc thôn Nà Khon, xã Yên Đĩnh, huyện Chợ Mới để nói chuyện. Trước khi đi Sơn rủ thêm bạn là Lã Đại Nam, Nguyễn Ngọc Duy, Nguyễn Cao Vũ, Nguyễn Quý Nam, Hoàng Thanh Tùng, Dương Khánh Tùng cùng đi lên ngã ba Yên Đĩnh với mình. Về phía Nguyễn Quang Anh, sau khi hẹn gặp Sơn, Quang Anh đã gọi điện cho Hoàng Xuân Tùng kể về sự việc. Sau đó, Nguyễn Quang Anh cùng với Nguyễn Quang Huy đến quán cầm đồ Chiến Bút, thuộc thôn Nà Khon, xã Yên Đĩnh gặp Hoàng Xuân Tùng và nói với Tùng là Sơn đang lên ngã ba Yên Đĩnh. Lúc này, tại quán còn có Phạm Tùng Dương đang ngồi chơi tại đó. Sau khi nói với Tùng xong, Quang Anh đi sang cửa hàng sắt Minh Hòa gần đó nhặt 02 tuýp sắt dài khoảng 80cm, đường kính 03cm cầm theo rồi đi đến ngã ba Yên Đĩnh. Một lúc sau, Tùng, Huy cùng đi xuống ngã ba Yên Đĩnh còn Dương vẫn ngồi tại quán. Bạn của Quang Anh là Nguyễn Hải Quang cũng lên tới ngã ba Yên Đĩnh. Khoảng 22 giờ 45 phút, Phạm Minh Sơn cùng với nhóm bạn đã lên đến ngã ba Yên Đĩnh. Nguyễn Quang Anh và Phạm Minh Sơn cãi nhau qua lại, cả hai xô xát lẫn nhau. Trong khi xô xát, Nguyễn Quang Anh nhặt một tuýp sắt dài khoảng 80cm, đường kính khoảng 03 cm hình trụ tròn cầm bằng tay phải và vụt một nhát từ trên xuống dưới vào lưng của Sơn nhưng không gây thương tích, Hoàng Xuân Tùng giật một tuýp sắt trên tay một người trong nhóm của Phạm Minh Sơn vụt theo hướng từ trên xuống dưới vào người Sơn, Sơn đưa tay ra đỡ. Phạm Tùng Dương thấy mọi người đánh nhau nên đi từ quán cầm đồ đi ra để xem, đến nơi thấy Sơn đang chửi bới mọi người, Dương bực tức đã nhặt một đoạn tuýp sắt màu trắng bạc dài khoảng 60 cm, đường kính 02 - 03 cm, hình trụ tròn trên đường đứng đối diện chếch chéo về bên trái của Sơn, Dương cầm tuýp sắt trên tay phải vụt 01 nhát từ trên xuống dưới, từ phải qua trái vào vùng đầu của Sơn gây thương tích. Cùng lúc đó, Nguyễn Hải Quang do bực tức việc Sơn xô xát đánh nhau với bạn của mình là Nguyễn Quang Anh nên đã nhặt 01 đoạn tuýp sắt gần đó cầm bằng tay phải vụt 01 nhát từ trên xuống dưới, từ phải qua trái vào sườn trái của Phạm Minh Sơn. Lúc xảy ra vụ xô xát còn có Hoàng Quốc Hùng là người đi qua đường đã đứng lại chứng kiến toàn bộ sự việc. Khi thấy Sơn bị thương và chảy máu ở đầu, thì Hoàng Thanh Tùng, Nguyễn Cao Vũ, Hoàng Quốc Hùng và Lã Đại Nam đã đưa Phạm Minh Sơn đi điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Chợ Mới.
Ngày 28/02/2018, Phạm Minh Sơn có đơn gửi đến cơ quan chức năng yêu cầu giải quyết vụ việc.
Ngày 02/4/2018 Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định y pháp để xác định tỷ lệ thương tật và cơ chế hình thành vết thương đối với Phạm Minh Sơn.
Tại Bản kết luận giám định Pháp y thương tích số: 1995/C54-TT1 ngày 18/4/2018 của Viện khoa học hình sự, Bộ Công an xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Minh sơn tại thời điểm giám định là: 01%; Thương tích vùng thái dương - đỉnh trái trên cơ thể của Phạm Minh Sơn do vật tày gây nên.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Viện khoa học hình sự, Bộ Công an.
* Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Tại bản Cáo trạng số 39/CT - VKSCM ngày 12/11/2018 truy tố bị cáo Phạm Tùng Dương về tội “Cố ý gây thương tích” và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:
- Phạm Tùng Dương phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134/BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38: Xử phạt: Bị cáo Phạm Tùng Dương từ 09 đến 12 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584,585, 590,357 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo bồi thường các khoản tiền cho bị hại với số tiền là 16.563.000đ, được trừ số tiền 1.000.000đ bị cáo đã tự nguyện bồi thường tại Chi cục Thi hành án huyện Chợ Mới.
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 135; 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2006/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Ý kiến của Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị hại:
- Trong vụ án này không xử lý đồng phạm đối với các đối tượng tham gia đánh Phạm Minh Sơn là không chính xác;
- Quyết định trưng cầu giám định đối với bị hại chậm, không đánh giá hết hậu quả do bị đánh;
- Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, tuy nhiên có một số tài liệu không có chữ ký của Kiểm sát viên, không lưu biên bản giao nhận Kết luận điều tra và Quyết định truy tố cho bị hại trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Mới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị hại có ý kiến về một số tài liệu không có chữ ký của Kiểm sát viên, không lưu biên bản giao nhận Kết luận điều tra và Quyết định truy tố cho bị hại trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy những vi phạm trên không vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, không ảnh hưởng đến bản chất của vụ án, xét thấy việc mở phiên tòa để xét xử bị cáo Phạm Tùng Dương về tội cố ý gây thương tích theo Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới là đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, bị cáo Phạm Tùng Dương đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 22 giờ 45 phút ngày 18/02/2018, tại khu vực ngã ba Yên Đĩnh, thuộc địa phận thôn Nà Khon, xã yên Đĩnh, trong lúc Phạm Minh Sơn có xô sát với Nguyễn Quang Anh và một số người khác thì bị cáo đã dùng tuýp sắt dài khoảng 60cm là hung khí nguy hiểm vụt một nhát vào vùng đầu của Phạm Minh Sơn. Hậu quả làm Sơn bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%.
Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích quy định tại Điều 134/BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Điều luật có nội dung:
"1. Người nào gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm …".
Cáo trạng số: 39/KSĐT-TA ngày 12/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn truy tố đối với bị cáo theo điểm a khoản 1 Điều 134/Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật. Tuy nhiên ngoài tình tiết "Dùng hung khí nguy hiểm" hành vi của của bị cáo còn thể hiện tính côn đồ, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác vì giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn, thù hằn, bị cáo không được ai rủ hoặc nhờ cùng tham gia đánh Sơn, nhưng khi thấy xô sát giữa hai bên, bị cáo đi từ quán cầm đồ đến xem và vô cớ dùng gậy sắt đánh Sơn gây thương tích, vì vậy cần xem xét hành vi của bị cáo theo tình tiết: "Có tính chất côn đồ" quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134/ Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, không những vậy còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an của địa phương, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình đã gây ra.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo có nhân thân xấu, là người có đầy đủ năng lực nhận thức được hành vi của mình, biết dùng hung khí đánh người gây thương thương tích là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đi khỏi địa phương, ngày 29/3/2018 cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Chợ Mới ra Thông báo truy tìm đối tượng không có kết quả; ngày 31/8/2018 ra Quyết định truy nã bị can; ngày 12/10/2018 Công an huyện Chợ Mới bắt bị cáo theo Quyết định truy nã.
Trước khi thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho Phạm Minh Sơn, ngày 01/11/2016 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 03 tháng tù về tội "Hủy hoại tài sản". Tuy nhiên khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi, vì vậy theo Điều 107 của Bộ luật Hình sự thì được coi là không có án tích, do đó không áp dụng tình tiết "Tái phạm" đối với bị cáo.
Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 1.000.000đ theo biên lai thu tiền số 07530 ngày 05/11/2018 của Chi cục Thi hành án huyện Chợ Mới. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bởi vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51/Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi , bổ sung 2017.
Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần có mức án phù hợp đối với bị cáo nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Ý kiến của người bảo vệ quyền lợi của bị hại cho rằng cần xử lý các đối tượng cùng tham gia đánh Phạm Minh Sơn với vai trò là đồng phạm. Hội đồng xét xử xét thấy: Trong vụ án này bị cáo Phạm Tùng Dương gây thương tích cho Sơn là do bị cáo bột phát, không có sự xúi giục, hay bàn bạc với bất kỳ ai trước khi đánh Sơn. Khi bị cáo đang ngồi chơi tại quán cầm đồ Chiến Bút, bị cáo đã nghe thấy Nguyễn Quang Anh nói với Hoàng Xuân Tùng về việc hẹn Sơn đến ngã ba Yên Đĩnh để nói chuyện. Khi thấy hai bên xô sát thì bị cáo đến để xem và bực tức khi thấy Sơn chửi mọi người nên đã nhặt đoạn tuýp sắt và vụt vào phần đầu của Sơn gây nên thương tích. Đối với các đối tượng Nguyễn Quang Anh, Hoàng Xuân Tùng và Nguyễn Hải Quang cũng có hành vi đánh Sơn nhưng không gây tỷ lệ tổn thương cơ thể cho Sơn. Hành vi của Phạm Tùng Dương và hành vi của những đối tượng khác là độc lập, không có sự bàn bạc, không cùng động cơ, mục đích, vì vậy Nguyễn Quang Anh, Hoàng Xuân Tùng và Nguyễn Hải Quang không đồng phạm với Phạm Tùng Dương và không xem xét xử lý các đối tượng này bằng pháp luật hình sự, Cơ quan Điều tra Công an huyện Chợ Mới xử phạt vi phạm hành chính xét thấy là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản tiền sau:
- Tiền viện phí: 1.705.502đ
- Tiền thuê xe Taxi : 900.000đ
- Tiền chụp CT: 1.800.000đ x 02 lần: 3.600.000đ
- Tiền công không lao động được và công người phục vụ: 09 ngày x 2.000.000đ = 18.000.000đ.
Tổng cộng: 24.205.502đ.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Đối với yêu cầu bồi thường tiền công không lao động được và công người phục vụ như vậy là quá cao, việc bồi thường cần phải căn cứ vào thiệt hại thực tế xảy ra và mức thu nhập bình quân ở địa phương. Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại những chi phí hợp lý cụ thể như sau:
- Tiền viện phí (theo hóa đơn) : 1.705.502đ
- Tiền khám, chụp CT và tiền xe đi và về (theo hóa đơn): 3.258.000đ
- Tiền công không lao động được: 09 ngày x 200.000đ/ngày (Mức thu nhập bình quân của địa phương) = 1.800.000đ
- Công người phục vụ: 09 ngày x 200.000đ = 1.800.000đ.
- Bồi dưỡng sức khỏe trong thời gian điều trị và sau khi ra viện: 2.000.000đ
- Tiền bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần: 5.000.000đ
Tổng cộng: 15.563.502đ.
* Đối với yêu cầu của bị hại về những tài sản đã bị mất gồm: 01 điện thoại Iphons; 01 đồng hồ đeo tay; 01 lắc đeo tay bằng vàng và số tiền 19.800.000đ: Phạm Minh Sơn cho rằng bị mất trong lúc hai bên xô sát. Hội đồng xét xử xét thấy:
Các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo, những người làm chứng có mặt tại thời điểm xảy ra xô sát giữa hai bên, không ai nhìn thấy Sơn bị rơi đồ đạc, tài sản gì và cũng không có người nào nhìn thấy ai nhặt được bất cứ thứ gì. Ngày 21/01/2019 bị hại giao nộp cho Tòa án 01 bản tường trình viết tay ký tên là Dương Khánh Tùng công nhận có nhìn thấy Nguyễn Quang Anh đã nhặt được điện thoại của bị hại trong lúc đánh nhau. Tuy nhiên bản tường trình này là do bị hại tự đem nộp, không được thu thập theo đúng trình tự của pháp luật Tố tụng hình sự, vì vậy không được coi là chứng cứ để xem xét. Do Dương Khánh Tùng không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra không thu thập được lời khai của Tùng. Tòa án đã giao Giấy triệu tập đến phiên tòa cho bà Bùi Thị Dung là mẹ đẻ Dương Khánh Tùng, bà Dung cam kết sẽ giao Giấy triệu tập cho Tùng. Tuy nhiên cả hai lần mở phiên tòa (ngày 23/01/2019 và ngày 30/01/2019) đều vắng mặt Dương Khánh Tùng, Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt người làm chứng Dương Khánh Tùng tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo Phạm Tùng Dương. Yêu cầu của bị hại về bồi thường các loại tài sản như trên không có đủ cơ sở để xem xét giải quyết trong vụ án này.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Tùng Dƣơng phạm tội: Cố ý gây thương tích.
Xử phạt Phạm Tùng Dương 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 12/10/2018.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584; 585; 590 của Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Phạm Tùng Dương phải bồi thường cho Phạm Minh Sơn số tiền là: 15.563.000đ. (Mười lăm triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn đồng). Xác nhận bị cáo Phạm Tùng Dương đã bồi thường số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 07530 ngày 05/11/2018 của Chi cục Thi hành án huyện Chợ Mới, nay bị cáo phải bồi thường tiếp cho Phạm Minh Sơn số tiền là 14.563.000đ. (Mười bốn triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn đồng).
Việc thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 26 Luật Thi hành án dân sự:
"Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả
Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này".
Khoản 1 Điều 468 quy định: " Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác".
"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự ".
3. Về án phí: Áp dụng điều 135; 136/BLTTHS; Nghị quyết quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Bị cáo Phạm Tùng Dương phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 728.000đ (Bảy trăm hai mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại, người bảo vệ quyền lợi cho bị hại. Bị cáo, bị hại và người bảo vệ quyền lợi cho bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND huyện Chợ Mới; - Công an huyện Chợ Mới; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn; - Bị cáo; bị hại; - Người bảo vệ quyền lợi cho bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lƣờng Thị Phẩm |