- Tranh chấp gì? án hình sự — "NMH - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2019/HS-ST Ngày 31-12-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Hương
Ông Trần Ngọc Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Trần Hùng Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2019/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2019/HSST-QĐ ngày 24 tháng 9 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2019/HSST-QĐ ngày 09 tháng 10 năm 2019; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:
NMH, sinh ngày 23 tháng 10 năm 1982 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 8A/11/3 A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông D (đã chết) và bà E; vợ là F và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 02/4/2019 đến ngày 09/4/2019 thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo bị truy nã theo Quyết định truy nã số 13 ngày 11/11/2019; vắng mặt.
Bị hại: Anh BH, sinh năm 1997; nơi cư trú: Số 12/8/40 G, phường H, quận C, Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 08 tháng 12 năm 2017 anh BH đi cùng anh I, sinh năm 1994, nơi cư trú: Số 274B J, H, C và anh K, sinh năm 1995, nơi cư trú: Số 3 đường 5/3 B, C, Hải Phòng đến nhà NMH để nói chuyện về việc em trai NMH là L còn nợ tiền nhóm BH chưa trả. Trong lúc nói chuyện giữa NMH, L và anh BH đã xảy ra mâu thuẫn dẫn đến xô xát, cãi vã. NMH chạy vào trong bếp lấy 01 con dao quắm dài khoảng 50cm, bản rộng 04cm, mũi dao cong, vỏ dao bằng gỗ cùng với L đuổi theo anh BH. Khi NMH đuổi kịp anh BH, NMH cầm dao bằng tay phải chém một nhát vào vùng đầu của anh BH, sau đó tiếp tục đuổi đánh anh BH thì bị I và K nhặt gạch ném lại. Khi anh BH bị ngã ra thì NMH và L dùng tay chân đấm, đá vào mặt và người anh BH, anh BH nhặt gạch, đoạn ống tre đánh lại NMH và L. Khi được ông M là chú ruột của NMH, L can ngăn, sự việc dừng lại anh BH được K và I đưa đi cấp cứu.
Theo bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 671/2017/TgT ngày 28/12/2017 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế Hải Phòng kết luận: “Nạn nhân bị 01 vết thương phần mềm da đầu không tổn thương sọ não và chấn thương lệch vẹo vách ngăn mũi. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của vết thương da đầu là 03%, của lệch vẹo vách ngăn mũi là 09%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do các thương tích gây nên cộng lùi và làm tròn số là 12%. Vết thương đầu có đặc điểm do vật sắc tác động trực tiếp gây nên; Chấn thương mũi có đặc điểm do vật tày tác động trực tiếp gây nên”. Thương tích trên của nạn nhân phù hợp với thời gian đã xảy ra vụ việc.
Quá trình điều tra, Cơ quan công an thu giữ 01 đoạn ống tre hình trụ, đường kính 6cm, dài 70cm; 01 viên gạch màu đỏ xám hình hộp chữ nhật, kích thước 21x5x9cm; 01 vỏ dao gỗ dài 67cm một đầu rộng 05cm, 01 đầu rộng 01cm. Đối với con dao NMH sử dụng để chém anh BH, NMH khai sau đó đã vứt đi, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.
Ngay sau khi xảy ra vụ án, NMH và L đều bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 12/01/2018, Cơ quan Cảnh sát điều Công an quận Hồng Bàng ra lệnh truy nã đối với NMH. Ngày 02/4/2019, NMH đến Công an quận Hồng Bàng đầu thú.
Trong vụ án này còn có đối tượng L có hành vi cùng với NMH gây thương tích cho anh BH. Cơ quan Điều tra đã khởi tố bị can đối với L về tội cố ý gây thương tích. Tuy nhiên do L đã bỏ trốn khỏi địa phương, hiện không biết rõ bị can đang ở đâu nên Cơ quan điều tra đã ra lệnh truy nã, quyết tạm đình chỉ điều tra và quyết định tách vụ án khi nào bắt được bị can L sẽ phục hồi điều tra xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 41/CT-VKS-HB ngày 19 tháng 8 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã truy tố NMH về tội "Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi của I và K dùng gạch ném về phía NMH, L; BH dùng đoạn ống tre, gạch đánh lại NMH, L thì do NMH không bị thương tích gì, L hiện đang bỏ trốn nên chưa làm rõ được thương tích của L, Cơ quan Điều tra đã tách nội dung này cùng với vụ án của L để xem xét, xử lý sau.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, xử phạt bị cáo NMH từ 27 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án trừ cho bị cáo số ngày tạm giữ từ ngày 02/4/2019 đến ngày 09/4/2019.
Về dân sự: Bị hại đã nhận bồi thường đầy đủ và không có yêu cầu nào khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Đối với vật chứng là: 01 đoạn ống tre hình trụ, đường kính 6cm, dài 70cm; 01 viên gạch màu đỏ xám hình hộp chữ nhật, kích thước 21x5x9cm; 01 vỏ dao gỗ dài 67cm một đầu rộng 05cm, 01 đầu rộng 01cm là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về việc vắng mặt của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo NMH được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo bỏ trốn. Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng đã có Công văn số 46/TA-HB ngày 06/11/2019 đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng truy nã bị cáo NMH. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng đã ra Quyết định số 13 ngày 11/11/2019 truy nã đối với bị cáo NMH. Sau khi hết thời hạn một tháng kể từ ngày có Quyết định truy nã bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng đã có Thông báo số 10/CV-ĐTTH ngày 09/12/2019 thông báo việc truy nã đối với bị cáo NMH không có kết quả (bị cáo chưa ra đầu thú, chưa bắt được bị cáo, chưa xác định được bị cáo đang ở đâu). Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng xét xử vắng mặt bị cáo NMH.
Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng truy tố đối với bị cáo: Tại cơ quan điều tra bị cáo NMH khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: Do xảy ra mâu thuẫn nên khoảng 11 giờ 00 phút ngày 08/12/2017 NMH có hành vi dùng dao chém và dùng tay chân đấm đá gây thương tích cho anh BH làm giảm 12% sức khỏe. Bị cáo nhận thức được hành vi gây tổn hại đến sức khỏe của người khác là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó hành vi của bị cáo NMH phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo NMH có hành vi dùng dao quắm là hung khí nguy hiểm chém gây thương tích cho bị hại là anh BH, do vậy hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm tình tiết định khung là “dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do thương tích bị cáo gây ra làm bị hại giảm 12% sức khỏe, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự như kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không vi phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra bị cáo NMH thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đồng thời bị cáo đã bồi thường tiền điều trị thương tích cho bị hại, bị hại đã nhận đầy đủ và không còn yêu cầu nào khác. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét áp dụng cho bị cáo. Ngoài ra sau khi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
- Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự xã hội và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo bỏ trốn nên cần thiết phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Tuy nhiên, căn cứ nguyên tắc xử lý của pháp luật hình sự cũng cần khoan hồng đối với người thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường cho bị hại. Do vậy, áp dụng hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
Về dân sự: Bị hại là anh BH vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong hồ sơ thể hiện bị hại đã được bị cáo bồi thường đầy đủ, không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ:
- Đối với 01 đoạn ống tre hình trụ, đường kính 6cm, dài 70cm; 01 viên gạch màu đỏ xám hình hộp chữ nhật, kích thước 21x5x9cm; 01 vỏ dao gỗ dài 67cm một đầu rộng 05cm, 01 đầu rộng 01cm. Xét đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo NMH phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội xử phạt: Bị cáo NMH 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, trừ cho bị cáo số ngày tạm giữ từ ngày 02/4/2019 đến ngày 09/4/2019.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn ống tre hình trụ, đường kính 6cm, dài 70cm; 01 viên gạch màu đỏ xám hình hộp chữ nhật, kích thước 21x5x9cm; 01 vỏ dao gỗ dài 67cm một đầu rộng 05cm, 01 đầu rộng 01cm.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an quận Hồng Bàng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng ngày 22 tháng 8 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng).
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo NMH phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo bản án:
Bị cáo; Bị hại đều vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP.Hải Phòng; - VKSND TP. Hải Phòng; - PV 27 Công an TP. Hải Phòng; - CA quận Hồng Bàng; - Cơ quan THAHS Công an quận Hồng Bàng; - VKSND quận Hồng Bàng; - Chi cục THADS quận Hồng Bàng; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Phương |