- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Danh C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN! CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM! PHÚC!THỌ!-!TP!HÀ!NỘI! ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2019/HS-ST Ngày 14- 02- 2019 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!!
TÒA!ÁN NHÂN!DÂN!HUYỆN!PHÚC!THỌ!-!THÀNH!PHỐ!HÀ!NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Đỗ Thị Minh Loan
Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"
Bà Nguyễn Thị Chiểu
Bà Kiều Thị Ninh
- Thư ký phiên tòa:"Ông Khuất Tiến Phúc, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2019/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:
LƯU!DANH!C,!sinh ngày 21 tháng 12 năm 1995 tại xã G, huyện Gi, tỉnh Ninh Bình
Nơi cư trú: Thôn 6, xã G, huyện Gi, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lưu Danh A và bà Vũ Thị T; Vợ, con: chưa có; Tiền án: Không, Tiền sự: Không; Nhân thân: tốt; bị bắt, tạm giữ, tạm giam: không, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người"tham"gia"tố"tụng"khác:
Bị hại: +!Anh!Hà!Thanh!Đ, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ Xóm V, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ;
+!Anh!Hà!Văn!T, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Địa chỉ Xóm V, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ;
Người làm chứng:
+!Anh Khuất!Văn!M, sinh năm 1975 (vắng mặt)
Địa chỉ: Cụm 2, xã P.H, huyện P, Thành phố Hà Nội.
+ Anh!Nguyễn!Văn!Th, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Địa chỉ: Cụm 7, xã V, huyện P, Thành phố Hà Nội.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ, ngày 09/8/2018, Lưu Danh C, sinh năm 1995, trú tại Thôn 6, xã G, huyện Gi, tỉnh Ninh Bình, cùng với Phạm Đức H, sinh năm 1997, trú tại thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng (là bạn mới quen qua mạng xã hội Facebook) cùng nhau đi lang thang tìm việc tại khu vực bến xe Mỹ Đình, Thành phố Hà Nội. Sau đó, được một người làm nghề xe ôm tại đây chỉ dẫn và chở C, H đến xưởng cơ khí tại địa chỉ thôn T, xã P.H, huyện P Thọ do anh Nguyễn Văn Th, (sinh năm 1978, HKTT: Cụm 7, xã V, huyện P, TP Hà Nội) làm chủ để xin việc. C và H vào xin làm thuê, được anh Th đồng ý và cho ở lại ăn cơm tối và ngủ qua đêm tại xưởng cơ khí của mình cùng với một số công nhân khác, gồm: Hà Văn T (sinh năm 1992), Hà Thanh Đ (sinh năm 1993), Phùng Thanh T1 (sinh ngày 30/01/2000) cùng trú tại xóm V, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Quá"trình"điều"tra, Lưu Danh C khai nhận: Khoảng 20 giờ cùng ngày, sau khi ăn cơm tối xong, C và H bàn bạc với nhau chờ cho các công nhân ở cùng phòng ngủ thì sẽ lấy trộm điện thoại di động của họ. Đến khoảng 01 giờ 30 phút rạng sáng ngày 10/8/2018, thấy những người ở cùng phòng đã ngủ say, C và H đi đến chỗ họ đang nằm ngủ lấy trộm điện thoại di động. Lưu Danh C đã lấy trộm của anh Hà Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO V5, màu vàng nâu và lấy trộm của anh Hà Thanh Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A51, màu đen – xanh; Còn H đã lấy trộm được 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL S11 PLUS, màu vàng của anh Phùng Thanh T1. Sau khi trộm cắp được số điện thoại nêu trên, C và H cùng nhau trèo qua tường bao ra ngoài xưởng rồi bỏ trốn. Ngay sau đó, anh Hà Thanh Đ tỉnh dậy, phát hiện thấy bị mất điện thoại nên đã hô hoán, rồi cùng mọi người truy tìm, đuổi bắt. Đến khoảng 03 giờ sáng cùng ngày, thì phát hiện thấy Lưu Danh C đang lẩn trốn tại khu cánh đồng gần bệnh viện đa khoa huyện P, mọi người bắt giữ và đưa C đến bàn giao cho Công an xã P.H để giải quyết, còn H chạy thoát được.
Tại Công an xã P.H, biết không thể che giấu được hành vi phạm pháp của mình, Lưu Danh C đã khai nhận hành vi phạm tội, đồng thời giao nộp 02 chiếc điện thoại đã trộm cắp được.
Cùng ngày, Công an xã P.H đã bàn giao hồ sơ vụ việc và đối tượng liên quan cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phúc Thọ để giải quyết theo thẩm quyền.
Do Lưu Danh C bị người dân (không rõ ai) đánh gây thương tích gãy xương cổ tay trái, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phúc Thọ đã đưa C đến bệnh viện Quân y 105-Bộ quốc phòng chữa trị. Ngày 11/8/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phúc Thọ đã bàn giao C cho gia đình quản lý, chăm sóc. Quá trình điều tra, Lưu Danh C không có yêu cầu đề nghị giải quyết về thương tích của mình, nên không đề cập giải quyết.
Ngày 13/9/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phúc Thọ tiến hành định giá và kết luận: “Tại"thời" điểm"bị"chiếm"đoạt,"chiếc" điện"thoại"di"động"nhãn"hiệu"VIVO"V5,"màu"vàng"nâu"có"trị"giá"là"2.000.000đ" (hai" triệu" đồng);" Chiếc" điện" thoại" di" động" nhãn" hiệu" OPPO" A51," màu" đen" -" xanh"có"trị"giá"là"1.200.000đ"(một"triệu"hai"trăm"nghìn"đồng);"Chiếc"điện"thoại" di"động"nhãn"hiệu"ITEL"S11"PLUS,"màu"vàng"có"trị"giá"là"1.300.000đ"(một"triệu" ba"trăm"nghìn"đồng)”.
Về tang vật trong vụ án:
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO V5, màu vàng-nâu và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A51, màu đen-xanh cho anh Hà Văn T và anh Hà Thanh Đ là chủ sở hữu hợp pháp. Còn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL S11 PLUS, màu vàng của của anh Phùng Thanh T1 đến nay chưa thu hồi được.
Về vấn đề dân sự trong vụ án:
Sau khi nhận lại tài sản nêu trên, anh Hà Văn T và anh Hà Thanh Đ đều không có yêu cầu bồi thường dân sự gì. Còn anh Phùng Thanh T1 yêu cầu bồi thường số tiền 1.300.000đ (một"triệu"ba"trăm"nghìn"đồng) trị giá chiếc điện thoại di động của anh bị mất trộm.
Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 11/01/2019, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ đã truy tố Lưu Danh C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lưu Danh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 (do bị cáo đầu thú và đã có thời gian tham gia quân ngũ), Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lưu Danh C từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thừ thách từ 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án về tội Trộm cắp tài sản.
Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không đề cập áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Do anh T và anh Đ đã được nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự nữa nên không phải xem xét;
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
!
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do vậy có đủ cơ sở để khẳng định:
[1] Khoảng 01 giờ 30 phút rạng sáng ngày 10/8/2018, tại xưởng cơ khí của anh Nguyễn Văn Th thuộc địa phận thôn T, xã P.H, huyện P, Thành phố Hà Nội, Lưu Danh C đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của người khác, thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu VIVO V5, màu vàng nâu của anh Hà Văn T, trị giá 2.000.000đ (Hai"triệu"đồng) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A51, màu đen –xanh của anh Hà Thanh Đ, trị giá 1.200.000đ (Một"triệu"hai"trăm"nghìn"đồng). Tổng giá trị tài sản Lưu Danh C chiếm đoạt là 3.200.000đ (Ba"triệu"hai"trăm"nghìn"đồng).
Hành vi nêu trên của Lưu Danh C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự."
Do vậy, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, bản thân bị cáo đang đi xin việc làm, được chấp nhận cho ăn ngủ lại nhà xưởng của công ty để bố trí việc làm nhưng nảy sinh ý đồ xấu ngay trong đêm đó, có ý định chiếm đoạt tài sản từ trước chứ không phải nhất thời phạm tội, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật nên cần có biện pháp xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.
[2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không có;
Tình tiết giảm nhẹ:
Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo có thời gian tham gia quân ngũ nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuy đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ đề nghị áp dụng tình tiết “Bị cáo đầu thú” là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo nhưng HĐXX không chấp nhận áp dụng tình tiết này do C bị người dân truy bắt được, giao cho cơ quan Công an chứ không phải bị cáo tự nguyện đến cơ quan Công an đầu thú.
Đối với Phạm Đức H, cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập và tiến hành xác minh, nhưng H không có mặt tại địa phương, gia đình không xác định được H đang ở đâu, đi đâu, làm gì nên chưa làm việc được với H. Ngoài lời khai của Lưu Danh C thì không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc H và C có bàn bạc, trao đổi trước khi trộm cắp tài sản của người khác và cũng không có căn cứ để xác định H là người đã trộm cắp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL S11 PLUS màu vàng của anh Phùng Thanh T1. Đồng thời cũng chưa đủ căn cứ để xác định trách nhiệm hình sự, dân sự đối với Lưu Danh C về giá trị tài sản này. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra tách việc anh Phùng Thanh T1 bị mất trộm tài sản, tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Do anh T và anh Đ đã được nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự nữa nên không phải xem xét;
[4] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều đảm bảo đúng pháp luật.
[5] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lưu Danh C 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai"trăm" nghìn"đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Trường"hợp"bản"án,"quyết"định"được"thi"hành"án"theo"quy"định"tại"Điều"2"luật" thi"hành"án"dân"sự"thì"người"được"thi"hành"án"dân"sự,"người"phải"thi"hành"án"dân"sự," có"quyền"thoả"thuận"thi"hành"án,"quyền"yêu"cầu"thi"hành"án,"tự"nguyện"thi"hành"án" hoặc"bị"cưỡng"chế"thi"hành"án"theo"quy"định"tại"các"Điều"6,"7"và"9"Luật"thi"hành"án" dân"sự,"thời"hiệu"thi"hành"án"được"thực"hiện"theo"quy"định"tại"Điều"30"Luật"thi"hành" án"dân"sự./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Phúc Thọ; - Bị cáo; Bị hại; - TANDTP Hà Nội; - VKSND TP Hà Nội; - CQĐT CA huyện Phúc Thọ; - Chi cục THADS huyện Phúc Thọ " | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! ! ! ! Đỗ!Thị!Minh!Loan! |