vanban.org

Bản án 04/2019/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 03/01/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/01/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trang Ngọc N - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Bản án số: 04/2019/HS-PT
!
Ngày: 03-01-2019

!

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"phúc"thẩm"gồm"có:!

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình

Các"Thẩm"phán:"

1. Bà Huỳnh Thị Việt Tiên

2. Bà Đoàn Thị Hương Giang

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Gền Trân

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:"Ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên."

Ngày 03 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 540/2018/TLPT-HS ngày 05 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Trang Ngọc N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 152/2018/HS-ST ngày 12/10/2018 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị"cáo"kháng"cáo:"Trang!Ngọc!N; sinh năm: 1976 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: TC100/29 Nguyễn Công T, phường Nguyễn TB, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 2/1F Trần Xuân S, phường TH, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trang Ngọc L và bà Ngô Thị T; hoàn cảnh gia đình: có chồng và 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại (có mặt)"

Ngoài ra, vụ án còn 02 bị cáo khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị.

!

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trang Ngọc N hoạt động kinh doanh quán ốc tại hẻm số 18 Võ Văn Kiệt, phường Nguyễn TB, Quận 1 trên phần đất công cộng. Mặc dù đã được tổ công tác trật tự đô thị phường nhiều lần nhắc nhở nhưng N vẫn tiếp tục buôn bán, lấn chiếm vỉa hè. Khoảng 17 giờ ngày 31/5/2018, tổ công tác gồm ông Nguyễn Thế H, Nguyễn Bảo Tru và Nguyễn Minh A kiểm tra nhưng N vẫn bày bàn ghế lấn chiếm lề đường. Khi được nhắc nhở N không chấp hành mà dùng lời lẽ nhục mạ, xúc phạm nên tổ công tác đã chốt xe công vụ và mở loa tuyên truyền. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện thực khách gửi xe tại hẻm 20 Võ Văn Kiệt sau đó đi bộ đến quán N ăn ốc nên đã yêu cầu không được đậu xe ở lòng đường dẫn tới nhiều khách bỏ đi. Lúc này N và con gái là Nguyễn Ngọc Ánh Tr cùng chửi bới, lăng mạ ông H và ông Tru, Nguyễn Văn G là con trai N dùng tay đấm vào mặt ông H thì được người dân căn ngăn. Tr thấy vậy liền dùng tay đánh 02 cái vào vai và lưng ông Tru, N cũng lao tới dùng tay đấm vào mặt ông H cho đến khi người dân căn ngăn, yêu cầu về trụ sở công an phường sự việc mới dừng lại. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 152/2018/HS-ST ngày 12/10/2018 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Trang Ngọc N phạm tội “Chống người thi hành công vụ”. Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Trang Ngọc N 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phạt đối với Nguyễn Văn G và Nguyễn Ngọc Ánh Tr, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo. Ngày 15/10/2018, bị cáo Trang Ngọc N kháng cáo xin hưởng án treo. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm nêu quan điểm kết luận cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “ Chống người thi hành công vụ” là đúng người, đúng tội, mức hình phạt đã tuyên là thỏa đáng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không có tình tiết mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên, các quyết định của bản án sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện hợp pháp.

[2] Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà nội dung bản án sơ thẩm đã nêu có đủ cơ sở xác định: khoảng 17 giờ ngày 31/5/2018 tại trước hẻm 18 và 20 đường Võ Văn Kiệt, phường Nguyễn TB, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, sau khi được nhắc nhở về hành vi buôn bán, giữ xe dưới lòng lề đường, bị cáo Trang Ngọc N cùng 02 con ruột là Nguyễn Văn G và Nguyễn Ngọc Ánh Tr đã có hành vi chống đối, lăng mạ, xúc phạm và đánh đập tổ công tác trật tự đô thị đang làm nhiệm vụ tuần tra, xử lý trật tự đô thị theo phân công của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo N phạm tội “Chống người thi hành công vụ” là xét xử đúng người, đúng tội.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới, xét về mức độ mặc dù bị cáo phạm tội lần đầu nhưng mang tính quyết liệt, coi thường pháp luật, cụ thể việc lấn chiếm lòng lề đường đã thực hiện trong thời gian dài cũng đã được nhắc nhở nhiều lần nhưng vẫn cố tình vi phạm. Xem xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Tòa cấp sơ thẩm đã áp dụng để tuyên phạt bị cáo N với mức án như trên là thỏa đáng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, do đó không có căn cứ xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.

[4] Bị cáo Trang Ngọc N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Vì"các"lẽ"trên;"

!

QUYẾT!ĐỊNH!

Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận cáo của Trang Ngọc N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Trang Ngọc N phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

* Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt Trang!Ngọc!N 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

*Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: bị cáo Trang Ngọc N!phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án. Nơi"nhận:!! !

!

!!!!!!!!!!!!!!TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM" -!TAND TC;!! !

(1)

THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA

- TAND Cấp cao tại TP.HCM; (1)

- VKSND cấp cao tại TP.HCM; (1)

- VKSND TP.HCM;

(1)

- VKSND Quận 1;

(1)

- P.PC53 - CATP;

(1)

- Bị cáo;

(1)

- THA Quận 1;

(1)

- TAND Quận 1;

(1)

- UBND nơi BC cư trú;

(1)

- Sở Tư pháp;

(1)

- Lưu, tòa hình sự, hồ sơ (16) (4)

Nguyễn!Thị!Thanh!Bình

!!

Cỡ chữ