- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức M - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đức M; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2018/HS-ST ngày 01-11-2018 của Tòa án nhân dân huyện S về phần hình phạt đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| __________ Bản án số:04/2019/HS-PT Ngày 16- 01- 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Lại Anh Vân.
Các thẩm phán:
Ông Bùi Đăng Huy
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: - Bà Phạm Thị Yến, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 186/2018/TLPT-HS ngày 12 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Trần Đức M, do có kháng cáo của bị cáo M đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2018/HSST ngày 01/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Hải Dương.
Bị cáo kháng cáo:
Trần Đức M - Sinh năm 1976;
ĐKHKTT và chỗ ở: Khu LC, thị trấn S, huyện S, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh;Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch:Việt Nam;
Con ông Trần Đức Nh và bà Nguyễn Thị M1; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ là Ngô Thị L, sinh năm 1976 (Đã ly hôn năm 2017); Có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2003. Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 05/9/2016 bị Công an huyện S xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 154;
Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Chị Ngô Thị L, sinh năm 1976;
Địa chỉ: Khu LC, thị trấn S, huyện S, tỉnh Hải Dương. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Đức M và chị Ngô Thị L, kết hôn năm 1997 đến tháng 6/2017 thì ly hôn. Do việc phân chia tài sản chung chưa giải quyết xong nên M và chị L vẫn sống chung trong ngôi nhà ở ngõ số 8, đường MC, khu LC, thị trấn S, huyện S. Tại đây, M và chị L cùng bán hàng ăn. M bán hàng ăn đêm còn chị L bán hàng ăn sáng. Khoảng hơn 09 giờ ngày 08/5/2018, M đi chợ về thấy chị L đang đứng trước hiên nhà nơi bán hàng ăn mắng bà Hoàng Thị T (là người phụ bán hàng ăn cho M) về việc bà T lấy Than của chị L nhưng không hỏi ý kiến. Lúc đó, M có nói với chị L “Lấy than nhưng đã trả rồi” thì giữa chị L và M xảy ra cãi vã, chửi nhau. Bực tức, M đã cầm 01 bát sứ màu trắng, đường kính miệng bát 16cm, đường kính trôn bát là 07cm ở trên bàn ăn gần đó đập một nhát vào đầu vùng chẩm trái của chị L. Hậu quả: chị Ngô Thị L bị rách da đầu chảy máu được đưa đi bệnh viện Đa khoa huyện S điều trị từ ngày 08/5/2018 đến ngày 11/5/2018 ra viện. Ngày 03/7/2018, chị Ngô Thị L có đơn yêu cầu khởi tố hình sự đối với Trần Đức M.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 148/TgT ngày 18/7/2018 của Phòng giám định pháp y Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương, kết luận: Sẹo vết thương phần mềm vùng chẩm trái kích thước nhỏ, tổn thương có đặc điểm do vật tày có cạnh gây nên. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01%.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2018/HSST ngày 01/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện S đã căn cứ: Khoản 1 Điều 134; điểm i, h, s khoản 1 Điều 51; Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Đức M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Đức M 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Bản án còn giải quyết về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án
phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 07/11/2018 bị cáo kháng cáo xin được hưởng khoan hồng, được ở ngoài xã hội.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.
- Bị hại chị Ngô Thị L trình bày:
Chị giữ nguyên yêu cầu khởi tố đối với bị cáo M và xác định lời khai của chị tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là chính xác, đề nghị Tòa án xét xử theo quy định của pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát nhâ dân (VKSND) tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tội danh: Sau khi phân tích các tình tiết trong vụ án, xác định cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội: Cố ý gây thương tích, theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nội dung kháng cáo:
Bị cáo gây thương tích làm tổn thương sức khỏe cho bị hại là 1%. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nơi cư trú rõ ràng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã nộp tiền án phí HSST, DSST và bồi thường cho bị hại đầy đủ thể hiện ý thức chấp hành pháp luật và có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bồi thường thiệt hại, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, xử phạt phạt bị cáo 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Án phí HSPT: Kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí HSPT.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1 ] Về tính hợp pháp của kháng cáo:
Kháng cáo của bị cáo Trần Đức M trong thời gian luật định nên là kháng cáo hợp lệ, được cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
[ 2] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 09 giờ ngày 08/5/2018, tại nhà ở của Trần Đức M và chị Ngô Thị L tại khu LC, thị trấn S, huyện S, tỉnh Hải Dương, do mâu thuẫn Trần Đức M đã có hành vi dùng 01 bát sứ có đường kính miệng bát 16cm, đường kính trôn bát là 7cm đập một nhát vào đầu vùng chẩm trái của chị Ngô Thị L. Hậu quả: chị Ngô Thị L bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 01% (một phần trăm).
Hành vi của bị cáo bị cấp sơ thẩm xét xử về tội: “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 BLSH năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo không kháng cáo và VKSND không kháng nghị về tội danh.
[ 3] Xét kháng cáo của bị cáo, HĐXX nhận thấy:
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác với lỗi cố ý trực tiếp.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; áp dụng Điều 54 BLHS khi quyết định hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về nhân thân, cấp sơ thẩm xác định bị cáo đã 1 lần bị xử phạt hành chính về
hành vi đánh bạc (ngày 05/9/2016) nhưng đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nên không xác định là tiền sự là có căn cứ pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã nộp xong tiền án phí HSST, DSST và bồi thường đầy đủ cho bị hại, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật và được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tự nguyện bồi thường theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Như vậy, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nơi cư trú rõ ràng; thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính đến ngày phạm tội đã quá 06 tháng, nay phạm vào tội ít nghiêm trọng, gây tổn thương sức khỏe của người bị hại là 01 %, tại cấp phúc thẩm có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Do vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo theo hướng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung có hiệu quả.
[ 4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[ 5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị HĐXX không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đức M; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2018/HS-ST ngày 01-11-2018 của Tòa án nhân dân huyện S về phần hình phạt đối với bị cáo.
Căn cứ khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, h, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Tuyên bố bị cáo Trần Đức M phạm tội: Cố ý gây thương tích.
- Xử phạt bị cáo Trần Đức M (03) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 16/01/2019.
Giao bị cáo Trần Đức M cho UBND thị trấn S, huyện S, tỉnh Hải Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại điều 69 Luật thi hành án hình sự.
2.Về án phí: Bị cáo Trần Đức M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 16/01/2019./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Hải Dương;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở TP tỉnh Hải Dương;
- TAND huyện S;
- Cơ quan điều tra Công an huyện S;
- VKSND huyện S;
- Chi cục THADS huyện S;
Lại Anh Vân
- Bị cáo; bị hại.
- Lưu tòa; Lưu HSVA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn M Tân
Bùi Đăng Huy
Lại Anh Vân
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Sở TP tỉnh Hải Dương; - TAND huyện huyện Kim Thành; - Công an huyện Kim Thành; - VKSND huyện Kim Thành; - Chi cục THADS huyện Kim Thành; - Các bị cáo; - Lưu tòa; Lưu HSVA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Anh Vân |