- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Huỳnh Thùy Trang - Châu Hồng Khởi"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ BẢY TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2019/HNGĐ-ST Ngày: 18/4/2019. V/v: “Không công nhận quan hệ vợ chồng” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ BẢY
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Cương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hải.
2. Ông Nguyễn Hoàng Thái.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Thẩm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ngã Bảy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Bảy tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Bảy mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 21/2019/HNGĐ-ST, ngày 12/02/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 28/3/2019, về việc "Xin ly hôn", giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Lý Huỳnh Thùy T, sinh năm: 1970. (Có mặt)
Trú tại: Khu vực S, phường NB, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Châu Hồng K, sinh năm: 1954. (Vắng mặt)
Trú tại: Khu vực S, phường NB, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/12/2018 và tại phiên tòa nguyên đơn Lý Huỳnh Thùy T trình bày:
Bà T và ông K quen biết, tìm hiểu nhau một thời gian sau đó được gia đình hai bên tổ chức đám cưới năm 1995, hôn nhân của ông bà hoàn toàn tự nguyện nhưng không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu cuộc sống gia đình hạnh phúc; sau đó xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, không tôn trọng lẫn nhau, kinh tế gia đình khó khăn nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn kéo dài không hàn gắn lại được nên bà T và ông K đã ly thân từ năm 1996 đến nay. Hiện nay bà T không còn tình cảm vợ chồng nên yêu cầu được ly hôn ông Châu Hồng K.
Về con chung: Có 01 con chung tên Châu Hồng Kha F1; sinh năm 1996. Hiện nay con chung đã trưởng thành nên bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Theo biên bản ghi lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Châu Hồng K trình bày: Ông K thừa nhận lời trình bày của bà T về năm đám cưới, nguyên nhân mâu thuẫn, con chung, tài sản chung, nợ chung là hoàn toàn đúng. Nay ông K đồng ý ly hôn với bà T; con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; tài sản chung, nợ chung không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Bảy tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Đối với các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu K kiện của nguyên đơn, không công nhận bà Lý Huỳnh Thùy T và ông Châu Hồng K là vợ chồng; con chung đã trưởng thành đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên không xem xét, tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Châu Hồng K đã được triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông K tìm hiểu nhau và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Căn cứ vào Biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân của Ủy ban nhân dân phường NB, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang xác định sổ bộ lưu đăng ký kết hôn từ năm 1995 đến nay không có tên bà Lý Huỳnh Thùy T và ông Châu Hồng K nên không có cơ sở xác định hôn nhân của bà T và ông K là hợp pháp. Do đó hôn nhân của ông bà không được pháp luật thừa nhận. Vì vậy khi mâu thuẫn xảy ra bà T yêu cầu ly hôn là không phù hợp mà Tòa án căn cứ vào quy định tại Điều 14; Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận bà Lý Huỳnh Thùy T và ông Châu Hồng K là vợ chồng.
Về con chung: Có 01 con chung tên Châu Hồng Kha F1, sinh năm 1996. Hiện nay con chung đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Không có.
Nợ chung: Không có.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 14; Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận Bà Lý Huỳnh Thùy T và ông Châu Hồng K là vợ chồng.
Về con chung: Có 01 con chung tên Châu Hồng Kha F1, sinh năm 1996. Hiện nay con chung đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Lý Huỳnh Thùy T phải nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0019086 ngày 12/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Bảy thành án phí, nguyên đơn không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, được quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi bị đơn đăng ký thường trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND TX. Ngã Bảy; - CCTHA TX. Ngã Bảy; - UBND phường NB; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Huỳnh Kim Cƣơng |