vanban.org

Bản án 04/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" của bà Phùng Thị Cẩm K đối với ông Đoàn Nhật R.

Về quan hệ hôn nhân: bà Phùng Thị Cẩm K được ly hôn ông Đoàn Nhật R. Do chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phùng Thị Cẩm K đối với ông Đoàn Nhật R nên giấy chứng nhận kết hôn số 22/2014; Quyển số 01/2013 do UBND phường Đ, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 26.02.2014 cho bà Phùng Thị Cẩm K và ông… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" của bà Phùng Thị Cẩm K đối với ông Đoàn Nhật R.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2019/HNGĐ-ST
Ngày : 24 /4/2019
V/v: “Ly hôn,tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Kim Nhung Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền

Ông Nguyễn Văn Đời

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Ngọc Tín - Thư ký TAND quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Thu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 04 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 05/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp: “Ly hôn,tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 15/03/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06 ngày 28/3/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Phùng Thị Cẩm K– sinh năm: 1992; Địa chỉ: Tổ 31(củ) 27 (mới) phường M, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Bị đơn: ông Đoàn Nhật R– sinh năm: 1993; Địa chỉ: Tổ 27 phường Đ, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện gửi đến Toà án ngày 19/12/2018 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Phùng Thị Cẩm K trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông R có đăng ký kết hôn tại Giấy chứng nhận kết hôn số 22/2014; Quyển số 01/2013 do UBND phường Đ, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 26.02.2014, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc ai. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng nhau về tình cảm, không hiểu nhau nên hay cãi vã, chúng tôi đã nhiều lần hàn gắn nhưng mâu thuẫn vẫn không được giải quyết. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không thành. Nay, tôi xác định không còn tình cảm với ông R nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Đoàn Nhật R.

- Về nuôi con chung: Tôi xác định tôi và ông Đoàn Nhật R có 02 người con chung, tên là: Đoàn Ngọc Huyền T – sinh ngày 09.12.2010; Đoàn Nhật Anh T – sinh ngày 26.6.2014. Nếu ly hôn, nguyện vọng của tôi là được trực tiếp nuôi dưỡng con hai con cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, ông R không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Tôi xác định tôi và ông Đoàn Nhật R không có tài sản

chung.

- Về nợ chung: Tôi xác định tôi và ông Đoàn Nhật R không có nợ chung.

* Đối với bị đơn – ông Đoàn Nhật R mặc dù đã được Tòa án đã giao các thông báo Thụ lý, về các phiên hòa giải nhưng ông R đều vắng mặt và không có ý kiến phản hồi. Do vậy, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông R theo thủ tục chung.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Theo đó, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng pháp luật; riêng bị đơn – ông Đoàn Nhật R Không có mặt tại các phiên hòa giải, không có mặt các phiên tòa. Ông R không chấp hành triệu tập của Tòa án, chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều, 51,56,81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phùng Thị Cẩm K về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung đối với ông Đoàn Nhật R xử bà Phùng Thị Cẩm K được ly hôn với ông Đoàn Nhật R.

Về con chung: giao hai con chung Đoàn Ngọc Huyền T , sinh ngày 09.12.2010; Đoàn Nhật Anh T – sinh ngày 26.6.2014 cho bà Phùng Thị Cẩm K trực tiếp nuôn dưỡng đến khi hai con chung đủ 18 tuổi. Ông R không cấp nuôi con. Về tài sản chung: bà Phùng Thị Cẩm K khai không có nên không đề cập giải quyết. Về nợ chung: bà Phùng Thị Cẩm K khai không có nợ chung nên không xem xét. Sau này ông R có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, HĐXX nhận định:

Về thủ tục: Đơn khởi kiện của bà Phùng Thị Cẩm K nộp tại Tòa án là đúng thủ tục và thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Bà Phùng Thị Cẩm K và ông Đoàn Nhật R có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng vào năm 2014, hôn số 22/2014; Quyển số 01/2013 do UBND phường Đ, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 26.02.2014. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Qua quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Quan hệ hôn nhân giữa bà Phùng Thị Cẩm K và ông Đoàn Nhật R tồn tại nhưng không thực sự hạnh phúc. Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương thì được chính quyền địa phương phường Đ quận Sơn Trà cung cấp,vợ chồng bà Phùng Thị Cẩm Kvà ông Đoàn Nhật R có đăng ký kết hôn và sống tại địa phương không bao lâu thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân là do ông R không quan tâm đến vợ con, hai vợ chồng thường xuyên cải vã mặc dù đã được bà con hàng xóm khuyên can. Bà Phùng Thị Cẩm Kvà ông Đoàn Nhật R có hai con chung tên là Đoàn Ngọc Huyền T , sinh ngày 09.12.2010; Đoàn Nhật Anh T – sinh ngày 26.6.2014. Cháu Đoàn Ngọc Huyền T đang ở với bà K, cháu Đoàn Nhật Anh T đang ở với ông R chủ yếu do ông bà nội chăm sóc và nuôi dưỡng. Nếu bà K yêu cầu ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về phía ông R, Tòa án đã tạo điều kiện nhiều lần để vợ chồng hòa giải mâu thuẫn, trở về đoàn tụ chung sống với nhau nhưng ông Đoàn Nhật R đều vắng mặt tại các phiên hòa giải. Việc này cho thấy ông Đoàn Nhật R không tôn trọng Tòa án và thờ ơ với việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, không có thiện chí níu kéo mối quan hệ hôn nhân của mình. Xét thấy, mâu thuẫn của bà Phùng Thị Cẩm K và ông Đoàn Nhật R đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phùng Thị Cẩm K và ông Đoàn Nhật R là phù hợp quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà Phùng Thị Cẩm K xác định trong quá trình chung sống, vợ chồng bà có 02 con chung tên: Đoàn Ngọc Huyền T , sinh ngày 09.12.2010; Đoàn Nhật Anh T – sinh ngày 26.6.2014, bà Phùng Thị Cẩm K yêu cầu nếu ly hôn, có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông R cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu về nuôi con chung của bà Phùng Thị Cẩm K thì thấy: Qua xác minh, chính quyền địa phương xác nhận hiện nay cháu Đoàn Ngọc Huyền T đang ở chung với bà K, cháu Đoàn Nhật Anh T đang ở với ông R nhưng chủ yếu do ông bà nội chăm sóc và nuôi dưỡng. Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay bà K trình bày bà đảm bảo điều kiện kinh tế và chổ ở để nuôi dạy các con vì các con đang nhỏ tuổi nên cần được sự chăm sóc của mẹ. Xét yêu cầu của bà Phùng Thị Cẩm K là hoàn toàn chính đáng, phù hợp với quy định tại Điều 81,82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình nên HĐXX chấp nhận.

Về tài sản chung: bà Phùng Thị Cẩm K xác nhận vợ chồng bà không có tài sản chung nên HĐXX không xem xét.

Về nợ chung: Bà Phùng Thị Cẩm K khai không có nợ chung.

Nếu sau này ông Đoàn Nhật R có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000 đồng bà Phùng Thị Cẩm K phải nộp nhưng được trừ đi số tiền tạm ứng án phí mà bà Phùng Thị Cẩm K đã nộp tại biên lai thu số 0007586 ngày 04/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà thành phố Đà Nẵng. Bà Phùng Thị Cẩm K đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 51; Điều 56; 81; 82; 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" của bà Phùng Thị Cẩm K đối với ông Đoàn Nhật R.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: bà Phùng Thị Cẩm K được ly hôn ông Đoàn Nhật R. Do chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phùng Thị Cẩm K đối với ông Đoàn Nhật R nên giấy chứng nhận kết hôn số 22/2014; Quyển số 01/2013 do UBND phường Đ, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 26.02.2014 cho bà Phùng Thị Cẩm K và ông Đoàn Nhật R không còn giá trị pháp lý.

Về quan hệ con chung: Giao hai con chung Đoàn Ngọc Huyền T , sinh ngày 09.12.2010; Đoàn Nhật Anh T – sinh ngày 26.6.2014 cho bà Phùng Thị Cẩm K được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, ông Đoàn Nhật R không cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Khi vì cần thiết lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung. Trường hợp người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì trên cơ sở lợi ích của con, quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: bà Phùng Thị Cẩm K xác nhận vợ chồng bà không có tài sản chung.

Về nợ chung: Bà Phùng Thị Cẩm K xác nhận vợ chồng không có nợ chung.

Nếu sau này ông Đoàn Nhật R có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000 đồng bà Phùng Thị Cẩm K phải nộp nhưng được trừ đi số tiền tạm ứng án phí mà bà Phùng Thị Cẩm K đã nộp tại biên lai thu số 0007586 ngày 04/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà thành phố Đà Nẵng. Bà Phùng Thị Cẩm K đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ