vanban.org

Bản án 04/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xin ly hôn "Về quan hệ hôn nhân: Bà K yêu cầu ly hôn với ông T; Về con chung: bà K yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung Phan N…"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 25-3-2019
V/v Tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Thanh Hoàng;

Ông Phạm Thanh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quới - thư ký Tòa án nhân dân huyện

Tịnh Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên

tòa: Nèang Sa Men – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2019/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng

01 năm 2019 về việc "Xin ly hôn" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

03/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1995, cư trú: ấp P, xã P,

huyện A, tỉnh A, có mặt;

- Bị đơn: Ông Phan Văn T, sinh năm 1994, cư trú: ấp P, xã A, huyện T,

tỉnh A, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ghi ngày 12 tháng 11 năm 2018 và các lời khai trong

quá trình giải quyết tại Tòa án, cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà

Nguyễn Thị K trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn

theo giấy chứng nhận số 73/2014, quyển số 02/2012, ngày 02 tháng 10 năm

2014 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T. Sau khi cưới vợ chồng cùng đi làm

công nhân ở Bình Dương, cuộc sống vợ chồng cũng xảy ra nhiều mâu thuẫn, do

ông T hay ghen tuông vô cớ, từ tháng 8 năm 2018 thì vợ chồng đã ly thân và không còn sống chung từ đó. Do đó, bà K yêu cầu được ly hôn với ông Phan Văn T.

Về con chung: Có 01 (một) con chung là Phan Nguyễn Yến N, sinh ngày

25/07/2015. Hiện tại do bà K nuôi dưỡng, bà yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

- Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Phan

Văn T đều vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên phát biểu ý kiến

về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký

Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa

vụ đúng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đúng các nghĩa vụ theo quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân giữa bà K và ông T

có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy về tình cảm giữa bà K và ông T không còn hạnh phúc, cả hai bỏ mặt không còn quan tâm, thể hiện từ tháng 08 năm 2018 thì bà K và ông T không còn sống chung với nhau. Như vậy, thấy rằng cuộc sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được.

Về con chung: Từ sau khi bà K và ông T không còn chung sống với nhau,

con chung đều do bà K nuôi dưỡng. Mặc khác, để đảm bảo điều kiện sinh hoạt và không làm thay đổi cuộc sống của bé, cần tiếp tục giao con chung cho bà K nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng bà K không yêu cầu, nên không xem xét.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không

có.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56 và Điều 81, 82, 83, 84

của Luật hôn nhân và gia đình 2014 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị K.

Tại phiên tòa hôm nay, ông T vắng mặt. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị K

vẫn giữ nguyên yêu cầu và không cung cấp tài liệu chứng cứ gì thêm cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả

tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Bị đơn ông Phan Văn T đã được Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên triệu

tập hợp lệ có mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử

căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án

tiến hành xét xử vụ án.

- Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Phan Văn T có đăng ký hộ khẩu

thường trú tại ấp P, xã A, huyện T, tỉnh A. Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên

thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1

Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Bà K và ông T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn

theo giấy chứng nhận số 73/2014, quyển số 02/2012, ngày 02 tháng 10 năm

2014 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T theo đúng quy định tại Điều 9, Điều

11 Luật hôn nhân gia đình năm 2000, nên đây là hôn nhân hợp pháp theo pháp

luật. Xét thấy về tình cảm bà K và ông T không còn hạnh phúc, cả hai bỏ mặt

không còn quan tâm, chung sống với nhau từ tháng 8 năm 2018. Như vậy, thấy

rằng cuộc sống hôn nhân giữa bà K và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng,

đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt, nên Hội

đồng xét xử thấy rằng bà Nguyễn Thị K xin ly hôn là có căn cứ.

Về con chung: Có một con chung tên Phan Nguyễn Yến N, sinh ngày 25

tháng 7 năm 2015. Xét về yêu cầu thấy rằng, từ sau khi không còn chung sống,

con chung đều do bà K nuôi dưỡng, đến nay cháu được khoảng 45 tháng tuổi.

Mặc khác, để đảm bảo điều kiện sinh hoạt và không làm thay đổi cuộc sống của

cháu N. Hội đồng xét xử thấy rằng, cần tiếp tục giao con chung cho bà K nuôi

dưỡng. Về cấp dưỡng bà K không yêu cầu, nên không xem xét.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị K khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án

phí dân sự hôn nhân sơ thẩm theo mức không giá ngạch. Ông Phan Văn T

không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và

gia đình 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị K xin ly

hôn với ông Phan Văn T.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị K và ông Phan Văn T.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung Phan Nguyễn Yến N, sinh ngày 25 tháng 7 năm

2015 cho bà Nguyễn Thị K trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Ông Phan Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Nguyễn Thị K cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông

Phan Văn T quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá

nhân tổ chức có thẩm quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

4. Về nợ chung: Không có.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị K phải chịu

300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: TU/2016/0014469 ngày 07 tháng 01 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên. Bà K đã nộp xong.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm

đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2

luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ