- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
- Tòa quyết gì? * Về quan hệ hôn nhân: Xử: Cho chị Trần Thị Thu L và anh Nguyễn Đức T ly hôn.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2019/ HNGĐ- ST Ngày 13/3/2019 V/v “Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1- Ông Nguyễn Chí Đức
2- Bà Nguyễn Thị Hoa
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Thị Anh Nhinh - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 13/3/2019 tại trụ sở TAND huyện Phù Ninh - tỉnh Phú Thọ, TAND huyện Phù Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 241/2018/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp hôn nhân gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05 ngày 12/02/2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu L - sinh năm 1993.
Địa chỉ: Khu 6, xã G, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
(Có đơn xin xử vắng mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Đức T - sinh năm 1992.
Địa chỉ: khu 5, xã H, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
(Hôm nay vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai tiếp theo chị Trần Thị Thu L trình bày: chị và anh Nguyễn Đức T được tự nguyện tự do tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã H năm 2014. Sau kết hôn vợ chồng về ở chung với bố mẹ anh T. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, không còn tình cảm và đã sống ly thân từ đầu năm 2018 đến nay. Chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị ở khu 6 xã G và vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nên chị xin được ly hôn với anh T.
Về con chung: vợ chồng không có con chung
Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Đều không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với anh Nguyễn Đức T: Đã được tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh T vắng mặt nên không có lời khai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
{1}Chị Trần Thị Thu L làm đơn xin ly hôn với anh Nguyễn Đức T. Do đó đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a, khoản 1 điều 35 BLTTDS.
{2}Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh T kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện P, tỉnh Phú Thọ là phù hợp với luật hôn nhân gia đình Việt Nam. Theo chị L trình bày vợ chồng chị phát sinh mâu thuẫn lý do vợ chồng không hợp nhau, không còn tình cảm. Chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị ở khu 6 xã G và vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2018 đến nay. Về phía anh T mặc dù đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án và gửi các văn bản tố tụng cho anh T để anh T thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nhưng anh T không có mặt.
Theo biên bản làm việc ngày 24/01/2019 tại UBND xã H đại diện chính quyền địa phương cung cấp: UBND xã H có nhận được các văn bản tố tụng của tòa án nhân dân huyện Phù Ninh gửi cho anh T về việc triệu tập anh T đến TAND huyện Phù Ninh để giải quyết vụ án ly hôn giữa chị L và anh T nhưng anh T vắng mặt. Theo biên bản làm việc ngày 24/01/2019 tại gia đình bà Nguyễn Thị T1 trú tại khu 5, xã H, huyện P, tỉnh Phú Thọ (là mẹ đẻ anh Nguyễn Đức T) cho biết chị L và anh T có đăng ký kết hôn với nhau năm 2014, sau kết hôn do công việc của hai vợ chồng nên mỗi người ở một nơi, thời gian gần đây thì chị L có về gia đình bà và nói với bà là vợ chồng không còn tình cảm xin được ly hôn với anh T. Gia đình bà cũng đã gọi cả hai con về nói chuyện gia đình, tuy nhiên anh T và chị L đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và nhất trí đồng ý cho chị L ly hôn. Thời gian gần đây gia đình bà có nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án về việc chị L xin ly hôn anh T, gia đình bà có thông báo cho anh T được biết. Nhưng do điều kiện công việc thường xuyên phải đi công tác nên không có mặt tại gia đình, quan điểm của anh T là đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay chị L có đơn xin được xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm là xin được ly hôn với anh T vì tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy có thể khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh T đã đến mức trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó nên xử cho chị L được ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 56 luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
{3} Về con chung: Chị L xác nhận vợ chồng không có con chung.
{4} Về tài sản chung: Chị L xác nhận là vợ chồng không có tài sản chung. Do anh T vắng mặt nên không có lời khai, tòa án không đặt ra xem xét.
{5} Về nợ chung, công sức: Chị L xác nhận là không có nên không đặt ra xem xét.
{6} Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện VKS nhân dân huyện Phù Ninh có quan điểm: vụ án thụ lý đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay tuân thủ đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đại điện VKS đề nghị Tòa án xử cho chị Trần Thị Thu L được ly hôn với anh Nguyễn Đức T. Về con chung: không có; Về tài sản chung: không đặt ra xem xét; Về nợ chung, công sức: chị L xác nhận là không có nên không xem xét.
{7} Về án phí: Chị Trần Thị Thu L phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 điều 56, ®iÒu 57, ®iÒu 58 LuËt H«n nh©n vµ gia ®×nh. Kho¶n 4 §iÒu 147, §iÒu 228, §iÒu 271, §iÒu 273 Bé luËt tè tông d©n sù;
* Về quan hệ hôn nhân: Xử: Cho chị Trần Thị Thu L và anh Nguyễn Đức T ly hôn.
* Về con chung: không có.
* Về tài sản chung: không xem xét giải quyết.
* Về nợ chung, công sức: Không xem xét.
* Về án phí: Chị Trần Thị Thu L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0001020 ngày 04/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Chị L đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để đề nghị tòa án xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKS ND tỉnh, huyện; - THADS huyện; - Các đương sự; - UBND xã H; - Lưu: HS- VP (10). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Phạm Hồng Vân |