vanban.org

Bản án 04/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Lường Thị T ly hôn anh Lò Văn P.

Về con chung: Giao cháu Lò Thị Hồng V, sinh ngày: 12/3/2014 cho chị Lường Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: Lường Thị T - BĐ: Lò Văn P"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Lường Thị T ly hôn anh Lò Văn P.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG ẢNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 04/2019/HNGĐ-ST
Ngày 04 tháng 10 năm 2019
“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lường Văn Hưởng.

2. Ông: Giàng A Chu.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Huy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng - tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Tuân – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 36/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 16/9/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lường Thị T; Sinh năm 1992

Nơi cư trú: Bản T, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên. (Có mặt tại phiên tòa)

2. Bị đơn: Anh Lò Văn P; sinh năm 1981

Nơi cư trú: Bản T, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 05 tháng 6 năm 2019, tại bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lường Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Tôi và anh Lò Văn P lấy nhau có đăng ký kết hôn ngày 02/8/2010 tại UBND phường S, thị xã M, tỉnh Điện Biên. Trước khi kết hôn hai bên tìm hiểu, tự nguyện yêu nhau, quá trình tìm hiểu không có sự ép buộc và tác động từ bên ngoài. Sau khi cưới hai vợ chồng chung sống hòa thuận, đầm ấm. Sau đó giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn ngày càng lớn khi anh P không trí thú làm ăn, không chăm lo cho vợ con, gia đình. Mặc dù được hai bên nội, ngoại hòa giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn của hai vợ chồng vẫn không thể giải quyết. Từ năm 2015 đến nay tôi và anh P đã sống ly thân. Nay tôi thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Lò Văn P.

Về con chung: Tôi và anh P có 01 người con chung: Cháu Lò Thị Hồng V, sinh ngày: 12/3/2014. Hiện nay cháu V đang ở cùng với tôi Lường Thị T tại bản T, xã M, huyện M, nguyện vọng của tôi là được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu V cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Không yêu cầu anh Lò Văn P cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản:

- Tài sản chung của vợ chồng: Không có (không yêu cầu tòa án giải quyết).

- Tài sản riêng: Không có (không yêu cầu tòa án giải quyết).

- Nợ phải trả; nợ lấy về: Không có (không yêu cầu tòa án giải quyết).

Bị đơn anh Lò Văn P được triệu tập nhiều lần và đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt.

Quan điểm của đại diện VKSND huyện Mường Ảng:

Về thủ tục: Quá trình giải quyết vụ án, thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách người tham gia tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu, Tống đạt các văn bản tố tụng.

Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, thủ tục phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Chị T và anh Lò Văn P đăng ký kết hôn từ ngày 02/8/2010 tại UBND phường S, thị xã M, tỉnh Điện Biên. Trước khi kết hôn với nhau hai bên tự tìm hiểu, tự nguyện yêu nhau, quá trình tìm hiểu không có sự ép buộc và tác động từ bên ngoài. Từ khi lấy nhau chị T, anh P chung sống hạnh phúc được 05 năm thì xảy ra mâu thuẫn, do tính cách không hợp nhau, Anh P không trí thú làm ăn, không chăm lo cho vợ con, gia đình. Mặc dù được 2 bên gia đình và chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần nhưng không thành, anh chị ly thân đã lâu, không còn chăm sóc quan tâm đến nhau. Nên áp dụng khoản 1 điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình; Áp dụng khoản 1 Điều 28;điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận yêu cầu của chị T, tuyên xử cho chị Lường Thị T được ly hôn với anh Lò Văn P.

Về con chung: Chị T và anh P có 01 người con chung: Lò Thị Hồng V, sinh ngày: 12/3/2014. Hiện nay cháu đang ở cùng với chị Lường Thị T, nguyện vọng của chị là được trực tiếp nuôi dưỡng cháu V cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Không yêu cầu anh Lò Văn P cấp dưỡng nuôi con chung. Áp dụng các điều 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật HNGĐ giao cháu V cho chị Lường Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị Lường Thị T không yêu cầu anh Lò Văn P cấp dưỡng nuôi con chung, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Về tài sản chung; tài sản riêng; nợ chung: Chị Lường Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cụ thể:

+ Tài sản chung của vợ chồng: Không có (không yêu cầu tòa án giải quyết).

+ Tài sản riêng: Không có (không yêu cầu tòa án giải quyết).

+ Nợ phải trả; nợ lấy về: Không có (không yêu cầu tòa án giải quyết).

Nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

Về án phí: Chị Lường Thị T là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn áp phí. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Miễn án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Lường Thị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân huyện Mường Ảng theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngày 10/6/2019 Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên thụ lý vụ án dân sự về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa nguyên đơn là chị Lường Thị T và bị đơn anh Lò văn P. Tòa án ra Thông báo thụ lý vụ án, tiến hành niêm yết công khai. Hết thời hạn 15 ngày bị đơn anh Lò Văn P không có ý kiến gì.

Tòa án ra thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần 1, Tòa án ra Thông báo hòa giải lần 2 đã tiến hành niêm yết công khai nhưng 02 buổi hòa giải anh P không đến tham gia hòa giải. Do vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt xét thấy bị đơn là anh Lò Văn P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn cố tình vắng mặt và cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đồng thời không có đơn phản tố nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Theo nội dung đơn xin ly hôn đề ngày 05/6/2019, lời trình bày của chị Lường Thị T tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay. Hội đồng xét xử xét thấy:

. Về hôn nhân: Chị Lường Thị T và Anh Lò Văn P lấy nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn 02/8/2010 tại UBND phường S, thị xã M, tỉnh Điện Biên. Sau khi kết hôn chị T và anh P chung sống hạnh phúc, sau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do chị T và anh P bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, anh P không trí thú làm ăn, không chăm lo cho vợ con, gia đình. Đỉnh điểm mâu thuẫn vợ chồng, từ năm 2015 đến nay anh chị đã sống ly thân, không quan tâm chăm sóc nhau. Xét thấy, vợ chồng anh chị không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, ai biết bổn phận của người đó, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh P đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu của chị T. Tuyên xử cho chị Lường Thị T được ly hôn với anh Lò Văn P.

. Về con chung: Chị T và anh P có 01 người con chung: Lò Thị Hồng V, sinh ngày: 12/3/2014. Nguyện vọng của chị là được trực tiếp nuôi dưỡng cháu V cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Không yêu cầu anh Lò Văn P cấp dưỡng nuôi con chung.

Cháu Lò Thị Hồng V đang sống ổn định cùng mẹ từ khi vợ chồng chị T, anh P sống ly thân, cháu vẫn còn nhỏ nên để không gây xáo trộn về tâm lý đồng thời đảm bảo cho sự phát triển về tinh thần cũng như quyền lợi về mọi mặt của cháu.

Áp dụng các điều 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật HNGĐ giao cháu Lò Thị Hồng V cho chị Lường Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị Lường Thị T không yêu cầu anh Lò Văn P cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về tài sản chung; tài sản riêng; nợ chung:

Theo nội dung đơn khởi kiện, trong quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên tòa ngày hôm nay chị Lường Thị T không yêu cầu giải quyết. Cụ thể:

+ Tài sản chung của vợ chồng: Không có (không yêu cầu tòa án giải quyết).

+ Tài sản riêng: Không có (không yêu cầu tòa án giải quyết).

+ Nợ phải trả; nợ lấy về: Không có (không yêu cầu tòa án giải quyết).

Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Lường Thị T là phù hợp nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

. Về án phí: Xét thấy chị Lường Thị T là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn áp phí, miễn toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch cho chị T.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 56, điều 81, điều 82, điều 83 và điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Lường Thị T ly hôn anh Lò Văn P.

2. Về con chung:

Giao cháu Lò Thị Hồng V, sinh ngày: 12/3/2014 cho chị Lường Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Anh Lò Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T.

Anh P có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên; người thân thích; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung; tài sản riêng; nợ chung: Không có, chị Lường Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Lường Thị T.

Án xử công khai sơ thẩm, kết thúc cùng ngày. Báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người vắng mặt.

Cỡ chữ