- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anh Anh Trần Đức L - chị Nguyễn Thị Quỳnh L"
- Căn cứ chính? Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2019/HNGĐ-PT Ngày: 18-4-2019 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản sau khi ly hôn, tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản.
Các Thẩm phán:
1. Bà Trần Thị Ánh Tuyết
2. Bà Trần Thị Thiên Hương
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Cao Thị Mai–Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:Bà Ngô Thị Thu Thuỷ – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2019, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia ình phúc thẩm thụ lý số 02/2019/TLPT-HNGĐ ngày 05/01/2019về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết ịnh ưa vụ án ra xét xử số 05/2019/QĐXX-HNGĐ ngày 03/03/2019 giữa các ương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Đức L, sinh năm 1980. Địa chỉ: số 55, ường số 3, thôn 4, xã ĐH, huyện ĐL, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Quỳnh L, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số 183, ường số 3, thôn 4, xã ĐH, huyện ĐL, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
1. Anh Phạm Tuấn A, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số 64, ường NCT, khu phố 5, thị trấn ĐT, huyện ĐL, tỉnh Bình Thuận .
2. Công ty TNHH MTV XM. Địa chỉ: số 268, ường ĐT 766, xã ĐC, huyện ĐL, tỉnh Bình Thuận.Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Ngọc T. Chức vụ: Giám ốc.
3. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Người ại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu Ph – Giám ốc Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện ĐL, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập:
1. Bà Nguyễn Thị Ánh Ph, sinh năm 1959 và ông Nguyễn Đ, sinh năm 1953. Cùng ịa chỉ: Số 185, ường số 3, thôn 4, xã ĐH, huyện ĐL, tỉnh Bình Thuận.
2. Chị Trần Thị Nhật L, sinh năm 1989. Địa chỉ: TL, xã VT, huyện VN, tỉnh Khánh Hòa.
3. Chị Trần Thị Trúc L1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Tổ dân phố HT 1, phường NĐ, TX. NH, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Trần Thị Trúc L1: Anh Trần Đức L, sinh năm 1978. Địa chỉ: số nhà 58, ường PBC, phường NH, thị xã NH, tỉnh Khánh Hòa.
4. Chị Dương Thị H, sinh năm 1978. Địa chỉ: Số 64, ường NCT, khu phố 5, thị trấn ĐT, huyện ĐL, tỉnh Bình Thuận .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm:
1. Nguyên đơn anh Trần Đức L, trình bày:
Sau thời gian tìm hiểu, anh và chị L tự nguyện ăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn ĐT vào ngày 14/4/2009. Những năm ầu, anh chị sống hạnh phúc và có với nhau 02 con chung tên Trần Đức Kh, sinh ngày 02/3/2011 và Trần Đức K, sinh ngày 06/10/2015. Khoảng hai năm trở lại ây, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân xuất phát từ việcvợ chồng không ồng quan iểm, không thông cảm, chia sẽ ược với nhau trong cuộc sống, khiến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, mặc dù ã ược gia ình, ơn vịvợ chồng công tác hòa giải nhưng không thành. Anh chị ã ly thân từ tháng 9/2017 ến nay, mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm ến nhau.Anh L nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm yêu thương, quý trọng nhau nên anh yêu cầu ly hôn.
Về con chung: Anh L trao quyền cho chị L lựa chọn, nếu chị L nuôi cả 02 con thì anh không phải cấp dưỡng nuôi con, vì thu nhập hiện nay của anh rất thấp, bởi anh ã xin nghỉ việc dài hạn ể iều trị bệnh hiểm nghèo nên thu nhập từ bảo hiểm xã hội chi trả dưới 5.000.000 ồng nên không có iều kiện cấp dưỡng; nếu chị L không chấp nhận thì anh sẽ nhận nuôi cả 02 con và không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng anh ã tạo lập ược khối tài sản chung gồm:
1. Đất và nhà cấp 4tại thửa ất số 59B, tờ bản ồ số 13, diện tích 330m2 ất ở và trồng cây lâu năm,tọa lạc tại số 183 ường số 3, thôn 4, xã ĐL, giấy chứng nhận quyền sử dụng ất (QSDĐ) số BE 450788, cấp ngày 25/5/2011 ứng tên anh và chị L; nhà ất này hiện chị L ang ở và quản lý.
2. Đất và nhà cấp 4 tạithửa ất số 351, tờ bản ồ số 13, diện tích 2.750m2 ất ở và trồng cây lâu năm, tọa lạc tại số 55, ường số 3, thôn 4, xã ĐL, giấy chứng nhận quyền sử dụng ất (QSDĐ) số BB 717605 cấp ngày 19/5/2010 ứng tên anh và chị L; nhà ất này hiện anh L ang ở và quản lý.
3. Thửa ất số 76, tờ bản ồ số 83, diện tích 100m2, giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số CA 285481cấp ngày 19/4/2016 ứng tên anh và chị L;
4. Thửa ất số 77, tờ bản ồ số 13, diện tích 128,3m2,giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số CA 285482, ngày 19/4/2016 ứng tên anh và chị L.
Ngoài ra còn có các tài sản khác gồm: 200.000.000 ồng ầu tư mua ất tại Bình Dương; 01 xe mô tô Yamahahiệu Jupiter anh ang sử dụng; 01 xe mô tô honda hiệu Lead chị L ang sử dụng và các tài sản khác là vật dụng sinh hoạt trong gia ình. Riêng ối với tiền 200.000.000 ồng ầu tư tại Bình Dương, chị L ã lấy về trả nợ Ngân hàng NN&PTNT chi nhánh ĐL hết trên 80.000.000 ồng. Hiện còn trên 110.00.000 ồng thì anh L ồng ý việc chị L ã tiêu xài hết cho sinh hoạt các con trong thời gian anh chị sống ly thân. Anh L không yêu cầu xem xét khoản tiền này.
Về nợ chung: Vợ chồng anh có nợ vợ chồng anh Phạm Tuấn A số tiền 200.000.000 ồng. Nguyên nhân nợ là vay tiền ể xây hàng rào và sửa chữa nhà ở tại số 55 ường số 3; nợ Chi nhánh Công ty TNHH MTV XM số tiền 167.000.000 ồng. Nguyên nhân nợ là do liên kết ầu tư hoạt ộng Taxi không hiệu quả, phải thanh lý hợp ồng trước thời hạn; nợ chị Trần Thị Trúc L1 số tiền 800.000.000 ồng. Nguyên nhân nợ là ể mua nhà ất tại số 55 ường số 3. Khi ly hôn, anh L yêu cầu phân chia tài sản chung và nghĩa vụ trả nợ chung theo quy ịnh của pháp luật, cụ thể mỗi người ược hưởng ½ giá trị khối tài sản chung và phải trả ½ số nợ chung. Anh L yêu cầu nhận tài sản bằng hiện vật và có nguyện vọng ược nhận nhà ất hiện anh ang ở và 01 thửa ất thổ cư tại thị trấn ĐT. Anh L ồng ý trả toàn bộ số nợ chung và thanh toán lại cho chị L phần giá trị chênh lệch theo quy ịnh của pháp luật.
2. Bị đơn chị Nguyễn Thị Quỳnh L, trình bày:
Chị L thống nhất với anh L về thời gian, ịa iểm kết hôn, con chung và thời gian sống ly thân. Chị L thừa nhận trong cuộc sống vợ chồng xảy ranhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân xuất phát từ việc anh L có tính gia trưởng, thường xuyên có thái ộ xem thường chị. Tháng 9/2017,anh L ã dọn ồ ạc ra sống riêng, từ ó hai bên không còn quan tâm nhau. Quá trình hòa giải tại Tòa án, chị L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn ược nên chị ồng ý ly hôn. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, chị L không ồng ý ly hôn vì cho rằng vẫn còn tình cảm với anh L. Về con chung: Nếu phải ly hôn, chị L yêu cầu ược nuôi cả hai con và yêu cầu anh L phải cấp dưỡng với mức 3.000.000 ồng/tháng/01con cho ến khi các con ủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Chị L thống nhất với khối tài sản chung mà ông Linh ã trình bày. Riêng dãy phòng trọ trên thửa ất số 59B, tờ bản ồ số 13, diện tích 330m2tại số 183 ường số 3 mà chị ang ở, quản lý là tài sản của cha mẹ chị, chứ không phải là tài sản chung do anh chị tạo lập; vì cha mẹ chị chỉ tặng cho ất chứ không tặng cho tài sản trên ất. Khi ly hôn, chị L yêu cầu ược nhận nhà và ất này và 02 thửa ất thổ cư tại thị trấn ĐT, anh L ược nhận nhà và ất mà anh L ang ở quản lý.
Ngoài khối tài sản trên thì vợ chồng chị còn ầu tư tại Công Ty taxi XM 03 chiếc xe taxi mang biển số lần lượt là 79A.007703; 86A.02546; 86A.0330. Đối với chiếc xe mang biển số 79A.007703 do vợ chồng chị mua với giá 450.000.000 ồng nhưng nhờ em gái chồng tên Trần Thị Trúc L1 ứng tên hộ; hai chiếc xe còn lại vợ chồng chị nhờ Công ty taxi XM vay giúp 70% giá trị của xe, còn lại 30% giá trị xe và các chi phí liên quan thì vợ chồng chị tự chi trả khoảng 450.000.000 ồng, sau khi tính toán các chi phí thì Công ty XM còn nợ lại vợ chồng chị 138.820.000 ồng. Ông Phan Ngọc T là giám ốc Công ty taxi XM có hứa trả cho vợ chồng chị số tiền trên nhưng ến nay chưa trả. Ngoài ra, vợ chồng chị còn cho em gái chồng là Trần Thị Nhật Lam mượn số tiền 80.000.000 ồng ể ầu tư nuôi tôm. Nay Công ty taxi XM khởi kiện vợ chồng chị nợ số tiền trên 167.000.000 ồng với lý do thanh lý hợp ồng thì chị L không ồng ý. Chị L yêu cầu Công ty XM phải ưa ra bằng chứng ể chứng minh, nếu không chứng minh ược thì phải hoạch toán doanh thu 03 chiếc xe trong những tháng trước ây và thẩm ịnh lại giá xe ở thời iểm mà Công ty XM thanh lý. Đồng thời ưa nợ của chị Nhật Lam và ông Phan Ngọc T vào tài sản chung ể chia theo pháp luật.
Về nợ chung: Chị L không thừa nhận khoản nợ chung 200.000.000 ồng của anh Tuấn A, vì chị không trực tiếp vay. Đồng thời, việc xây hàng rào, sửa chữa nhà số 55 là do chị vay 100.000.000 ồng từ ngân hàng ưa anh L sửa nhà, trong khi ó chi phí sửa nhà chỉ hết 130.000.000 ồng, nên việc anh L cho rằng vay 200.000.000 ồng ể sửa chữa nhà là không có căn cứ; chị L không thừa nhận khoản nợ chung trên 167.000.000 ồng của Công ty TNHH MTV XM với lý do chị ã trình bày nêu trên; không thừa nhận khoản nợ chung 800.000.000 ồng của Trần Thị Trúc L1, vì tiền mua nhà ất là của vợ chồng chị và thực tế Trúc Lam không có tiền ể cho vợ chồng chị mượn.
Chị L chỉ thừa nhận khoản nợ chung mà chị vay tín chấp trừ lương tại Chi nhánh ngân hàng NN&PTNT ĐL số tiền 100.000.000 ồng, vay ngày 25/7/2017 ể sửa chữa nhà số 55. Khoản nợ này, vào ngày 25/01/2018, chị L ã trả xong với số tiền 81.832.583 ồng, từ số tiền 200.000.000 ồng chị ang giữ do rút ầu tư ất tại Bình Dương; nợ mẹ chị là bà Nguyễn Thị Ánh Ph 40.000.000 ồng và nợ chị gái chị là Nguyễn Thị Ánh L 15.000.000 ồng.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Phạm Tuấn A và chị Dương Thị H trình bày:
Ngày 20/8/2017, anh Trần Đức L và chị Nguyễn Thị Quỳnh L có mượn vợ chồng anh chị số tiền 200.000.000 ồng với mục ích sửa nhà, làm hàng rào và cam kết trả trong vòng 02 tháng nhưng ến nay vẫn chưa trả. Tuy trong hợp ồng vay tiền, chỉ có một mình anh L ký tên vay nhưng vào thời iểm anh L vay tiền chị Lcó biết và ã ồng ý. Bởi khi anh Tuấn A ưa trước 50.000.000 ồng thì có cả anh L và chị L nhận. Ngoài ra, khi vợ chồng anh L bất hòa thì anh Tuấn A cùng với 02 cô giáo, trong ó có 01 cô giáo cùng trường ến nhà anh L chị L ể giản hòa thì chị L ã ồng ý trả số tiền trên. Vì vậy, anh Tuấn A và chị H yêu cầu vợ chồng anh L chị L phải liên ới trả số tiền vay 200.000.000 ồng và tiền lãi phát sinh theo quy ịnh của pháp luật kể từ ngày 01/01/2018 cho ến ngày xét xử.
4.Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Chi nhánh Công ty TNHH MTV XM do ông Phan Ngọc T đại diện trình bày:
Số tiền mà Công ty khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh L phải trả có nguồn gốc từ việc Công ty hợp tác làm ăn với anh L. Cụ thể: công ty có hợp tác với anh L 02 chiếc xe ể hoạt ộng taxi, anh L có nhờ Công ty mua và vay hộ một phần ể mua 02 chiếc xe, anh L ưa trước 450.000.000 ồng. Việc hợp tác làm ăn hàng tháng ều ối chiếu và công ty thanh toán tiền lãi ầy ủ cho anh L. Bảng thu chi như thế nào hàng tháng ều gửi qua cho anh L biết ể theo dõi, quản lý. Sau ó, vào tháng 6/2017anh L chủ ộng yêu cầu thanh lý xe và bên công ty ồng ý. Sau khi trừ tất cả các chi phí như tiền nợ ngân hàng, tiền sửa chữa 03 xe bị tai nạn, trong ó có 01 xe anh L thuê của công ty i gặp nạn thì phía anh L còn nợ lại công ty tổng số tiền 167.528.649 ồng. Việc thanh lý xe là do anh L ề xuất; giá cả thanh lý là phù hợp, bởi xe bị tai nạn nên giá trị của xe thấp. Do ó, việc chị L không ồng ý hay có ý kiến như thế nào thì chị L và anh L tự giải quyết, phía công ty không can thiệp. Bởi từ khi xác lập, thực hiện ến khi thanh lý hợp ồng ều do phía công ty giao dịch trực tiếp với cá nhân anh L. Do ó, công ty yêu cầu trả số tiền trên, không yêu cầu tính lãi.Việc vợ chồng anh L hay cá nhân anh L phải có nghĩa vụ trả số tiền trên thì ề nghị Tòa án xác ịnh. Riêng chiếc xe taxi biển kiểm soát 79A.007703 thì phía công ty ký hợp ồng hợp tác trực tiếp với chị Trần Thị Trúc L1. Việc chị L tranh chấp với anh L, chị L thì các bên tự giải quyết, phía công ty không can thiệp.
5.Chi nhánh ngân hàng NN&PTNT huyện ĐL về việc yêu cầu vợ chồng chị L phải trả số tiền nợ vay 85.000.000 ồng. Ngày 12/3/2018, Chi nhánh ngân hàng ã rút yêu cầu khởi kiện và ề nghị Tòa án ình chỉ giải quyết yêu cầu ộc lập với lý do, ngày 25/01/2018 chị L ã trả xong nợ gốc và nợ lãi với số tiền 81.832.583 ồng.
6. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Ánh Ph và ông Nguyễn Đ thống nhất trình bày:
Thửa ất số 183, diện tích 300m2 tại só 183 ường số 3, xã ĐL mà vợ chồng chị L, anh L tranh chấp chia tài sản có nguồn gốc củaông bà nhưng ông bà ã tặng cho vợ chồng chị L vào năm 2011 sau khi kết hôn. Riêng dãy nhà trọ trên ất vẫn thuộc quyền sở hữu của ông bà, bởi ông bà bỏ tiền ra sửa chữa, xây dựng vào năm 2009 và hiện nay vẫn ang quản lý, cho thuê lấy tiền hàng tháng. Đồng thời hợp ồng tặng cho vào năm 2011 chỉ cho ất chứ không cho nhà. Nếu chị L và anh L kiên quyết ly hôn và nếu chị L ược nhận thửa ất này thì vợ chồng ông bà ồng ý tặng dãy nhà trọ cho chị L; nếu anh L ược nhận thửa ất này thì vợ chồng ông bà ồng ý giao dãy nhà trọ cho anh L ược quyền sở hữu, vợ chồng bà yêu cầu anh L phải thối lại cho ông bà giá trị nhà trọ theo kết quả ịnh giá của Tòa án.
7. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Trúc L1 trình bày:
Vào tháng 01/2015, chị và vợ chồng anh L có hùn vốn ể mua 01 chiếc taxi hiệu Hyundai I10 của công ty TNHH MTV XM ể vận chuyển hành khách với giá 450.000.000 ồng. Vợ chồng chị L ã chuyển ủ số tiền 450.000.000 ồng. Tức chịLam nợ vợ chồng chị L 225.000.000 ồng. Trong quá trình hoạt ộng, tiền lãi hàng tháng ược thanh toán ầy ủ cho ôi bên. Riêng số nợ mà chị nợ vợ chồng chị L thì chị ã trả cho anh L xong trong năm 2016. Hiện nay, chiếc xe taxi trên ã thanh lý không còn liên quan gì nữa. Riêng số tiền 800.000.000 ồng anh L mượn mua ất vào tháng 8/2015 thì chị không khởi kiệnmà ể gia ình tự giải quyết.
8.Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Nhật L trình bày:
Ngày 10/01/2017, vì thiếu vốn làm ăn nên chị có gọi iện thoại cho vợ chồng anh Trần Đức L ể mượn 80.000.000 ồng. Nhưng vợ chồng anh L nói không có tiền nên chị L ã mượn của anh Tuấn A (là con nuôi của cha mẹ chị L) số tiền 80.000.000 ồng. Vào ngày 10/4/2017, chị ã hoàn trả số tiền trên cho vợ chồng anh Tuấn A.
Sau khi hòa giải không thành, Tòa án cấp sơ thẩm ã ưa vụ án ra xét xử. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 97/2018/DS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện ĐL, ã quyết ịnh:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 165, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37, Điều 51, Điều 56, Điều 59, Điều 60, Điều 62, Điều 81 và 82 Luật Hôn nhân và Gia ình năm 2014; Điều 163, Điều 280, Điều 287, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa ổi, bổ sug năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy ịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử:
1/Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Đức L.
1.1 Về hôn nhân: Tuyên bố Trần Đức L ly hôn Nguyễn Thị Quỳnh L.
1.2 Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Quỳnh L ược quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng 02 con: Trần Đức Kh, sinh ngày 02/3/2011 và Trần Đức K, sinh ngày 06/10/2015. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh L có quyền và nghĩa vụ thăm nom các con mà không ai ược cản trở. Nếu sau này các bên có tranh chấp về quyền nuôi con và cấp dưỡng sẽ ược giải quyết bằng vụ án khác.
1.3Về tài sản chung: Chia cho anh Trần Đức L ược quyền sử dụng và sở hữu các tài sản sau: Nhà, ất và tài sản khác tại số 55 ường số 3, thôn 4, xã ĐL gồm: 2.750m2 ất thổ cư và vườn tạp, tại thửa ất số 351, tờ bản ồ số 13, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số BB 717605 mà anh L và chị L ã nhận chuyển nhượng và sang tên vào ngày 10/9/2015; nhà cấp 4b, diện tích 89,06m2; vòm khung sắt mái tôn; giếng ào; hàng rào; máy lọc nước Rostar; tủ quần áo gỗ; tủ lạnh Hatachi; kệ sách gỗ; tủ gỗ kính; tivi toshiba; dàn âmly +loa; bàn gỗ ván ép; máy vi tính hiệu compac; bàn ghế salon gỗ; bàn nhựa học sinh; nệm kim an; két sắt; giường gỗ; máy in Canon; bộ bàn ghế á; máy iều hòa panasonic; xe máy Yamaha hiệu Jupiter biển số 86B8-28701; Đất thổ cư diện tích 100m2 tại thửa ất số 76, tờ bản ồ số 83, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số CA 285481 ược Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 19/4/2016 ứng tên Trần Đức L và Nguyễn Thị Quỳnh L; Tổng tài sản anh L ược nhận bằng hiện vật là 2.461.315.000 ồng. Anh L ược sở hữu tiền mặt 80.000.000 ồng; Buộc anh L phải thanh toán phần giá trị tài sản chênh lệch cho chị L số tiền 523.887.000 ồng.
Chia cho chị Nguyễn Thị Quỳnh L ược quyền sử dụng và sở hữu các tài sản sau:Nhà, ất và tài sản khác tại số 183 ường số 3, thôn 4, xã ĐL gồm: 330m2 ất thổ cư và vườn tạp, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số BE 450788 ược UBND huyện ĐL cấp ngày 25/5/2011 ứng tên Trần Đức L và Nguyễn Thị Quỳnh L; nhà cấp 4b, diện tích 101m2; hàng rào; vòm khung sắt mái tôn; hệ thống iện; máy giặt sanyo; bàn chân gỗ mặt á; máy iều hòa LG; giường ván ép; tủ quần áo gỗ; xe honda hiệu Lead biển số 86Z2-1155; Đất thổ cư diện tích 128,3m2 tại thửa ất số 77, tờ bản ồ số 83, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số CA 285482 ược Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 19/4/2016 ứng tên Trần Đức L và Nguyễn Thị Quỳnh L; chị L ược sở hữu 523.887.000 ồng do anh L thanh toán. Tổng tài sản chị L ược nhận là 1.632.510.000 ồng.
Kể từ ngày chị Nguyễn Thị Quỳnh L có ơn yêu cầu thi hành án về số tiền anh Trần Đức L phải thanh toán, thì hàng tháng anh L còn phải chịu tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy ịnh tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành án.
Ghi nhận việc tặng cho dãy nhà trọ diện tích 93,72m2, tọa lạc trên thửa ất số 183 ường số 03, thôn 4, xã ĐL, giữa ông Nguyễn Đ, bà Nguyễn Thị Ánh Ph với chị Nguyễn Thị Quỳnh L. Công nhận chị Nguyễn Thị Quỳnh L ược quyền sở hữu dãy nhà trọ nêu trên.
Anh L và chị L có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền ể kê khai, iều chỉnh tên người sử dụng ất và sở hữu tài sản theo quy ịnh của pháp luật.
2/Chấp nhận yêu cầu ộc lập của anh Phạm Tuấn A. Buộc anh Trần Đức L phải trả cho anh Tuấn A và chị H số tiền 217.389.000 ồng. Trong ó gồm 200.000.000 ồng tiền gốc và 17.389.000 ồng tiền lãi.
Kể từ ngày anh Tuấn A và chị H có ơn yêu cầu thi hành án về số tiền anh Trần Đức L phải trả, thì hàng tháng anh L còn phải chịu tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy ịnh tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành án.
3/Chấp nhận yêu cầu ộc lập của Chi nhánh công ty TNHH MTV XM. Buộc anh Trần Đức L phải trả cho Chi nhánh công ty TNHH MTV XM số tiền 167.528.000 ồng.
Kể từ ngày Chi nhánh công ty TNHH MTV XMcó ơn yêu cầu thi hành án về số tiền anh Trần Đức L phải trả, thì hàng tháng anh L còn phải chịu tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy ịnh tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành án.
4/ Đình chỉ phần yêu cầu ộc lập về tranh chấp hợp ồng vay tài sản của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện ĐL.
5/ Về chi phí ịnh giá: Anh L phải chịu 1.500.000 ồng; chị L phải chịu 1.500.000 ồng. Buộc chị L nộp số tiền này ể hoàn trả lại cho anh L.
6/ Về án phí:
Anh Trần Đức L phải chịu 70.898.000 ồng án phí sơ thẩm (trong ó 300.000 ồng án phí ly hôn; 9.623.000 ồng án phí về nghĩa vụ trả nợ; 60.975.000 ồng án phí về chia tài sản chung). Anh L ược cấn trừ 11.812.500 tạm ứng án phí ã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0018017 ngày 15/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐL. Anh L còn phải nộp 59.085.500 ồng án phí sơ thẩm.
Chị Nguyễn Thị Quỳnh L phải chịu 70.598.000 ồng án phí sơ thẩm (trong ó 60.975.000 ồng án phí về chia tài sản chung và 9.623.000 ồng án phí về nghĩa vụ trả nợ chung).
Anh Phạm Tuấn A không phải chịu án phí sơ thẩm, ược trả lại số tiền 5.000.000 ồng tạm ứng án phí ã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0018064 ngày 05/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐL.
Chi nhánh công ty TNHH MTV XM không phải chịu án phí sơ thẩm, ược trả lại số tiền 4.188.000 ồng tạm ứng án phí ã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0018067 ngày 05/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐL.
Trả lại cho Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT huyện ĐL số tiền 2.125.000 ồng, tạm ứng án phí ã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0018099 ngày 15/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐL.
Ngoài ra, bản án còn tuyên quyền kháng cáo của các ương sự.
Ngày 20/11/2018, chị Ly kháng cáo bản án sơ thẩm về tài sản chung, nợ chung và yêu cầu cấp dưỡng, cụ thể là:
- êu cầu anh Trần Đức Linh phải cấp dượng nuôi con, mỗi con 2 triệu ồng/tháng.
- Không ồng ý khoản nợ chung ối với khoản vay của anh Phạm Tuấn A và khoản nợ Công ty XM.
- êu cầu ưa số tiền 80.000.000 mà chị Trần Thị Nhật L vay của vợ chồng vào tài sản chung ể chia.
Ngày 19/3/2019, Chị L có kháng cáo bổ sung, ơn ề ngày 14/3/2019, yêu cầu Công ty Taxi XM phải trả số tền 138.820.000 cho vợ chồng chị.
Tại phiên tòa, chị Ly vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Anh L, chị Ly thỏa thuận ược với nhau về phần cấp dưỡng, nợ chung, xác ịnh tài sản chung có thêm 80.000.000 . Không thống nhất với các yêu cầu khác của chị Ly.
Đại diện Viện kiểm sát ề nghị Hội ồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận thỏa thuận của anh L và chị L về phần cấp dưỡng, nợ chung, xác ịnh có thêm tài sản chung số tiền 80.000.000 ; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Ly về nhận tài sản bằng hiện vật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ ã ược thẩm tra, xem xét tại phiên tòa; căn cứ lời khai của ương sự, kết quả tranh luận và ề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội ồng xét xử nhận ịnh:
1 Về phạm vi kháng cáo:
Tại ơn kháng cáo bổ sung ề ngày 14/3/2019, chị L yêu cầu thẩm ịnh lại xe ô tô chị và anh L ã góp vốn vào Công ty Taxi XM, thu hồi lại 2 chiếc xe 86A03546 và 86A. 03330, truy thu doanh thu của 2 chiếc xe này, buộc Công ty Taxi XM phải trả số tiền 138.820.000 . Xét thấy, tại cấp sơ thẩm chị không có ơn yêu cầu phản tố ối với các nội dung trên, sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn kháng cáo, chị L c ng không kháng cáo nội dung này. Nội dung kháng cáo bổ sung vượt quá phạm vi kháng cáo ban ầu nên Hội ồng xét xử không xem xét.
. Về thỏa thuận của anh L và chị Ly tại phiên tòa phúc thẩm.
Tại phiên tòa, anh L và chị Ly ã thỏa thuận các nội dung sau:
Về cấp dưỡng: Anh L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 01 triệu ồng/01con , 02 con là 2 triệu ồng/tháng cho ến khi con 18 tuổi, có khả năng lao ộng.
Về khoản nợ ối với anh Phạm Tuấn A và nợ Công ty XM: Anh L cho rằng bản chất các khoản nợ trên là nợ chung của vợ chồng như quyết ịnh của bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, do chị Ly có kháng cáo về phần này nên anh chấp nhận một mình anh ứng ra trả nợ (nợ riêng), không yêu cầu chị L phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ này, Công ty XM và anh Phạm Tuấn Anh thống nhất với thỏa thuận của anh L và chị Ly.
Về tài sản chung: Chị L xác ịnh chị Trần Thị Nhật L nợ anh chị 80.000.000 . Anh L thống nhất với yêu cầu của chị L, anh ồng ý trả cho chị Ly 40.000.000 ồng.
Xét thấy sự thỏa thuận nêu trên của các ương sự là tự nguyện, không vi phạm iều cấm của luật và không trái ạo ức xã hội nên Hội ồng xét xử sẽ sửa án sơ thẩm về phần này, công nhận sự thỏa thuận của các ương sự.
[3 Về công sức tạo lập tài sản.
Chị L cho rằng thửa ất số 183 ở thôn 4 Đức Hạnh có nguồn gốc do cha mẹ chị cho hai vợ chồng nên yêu cầu ược tính công sức óng góp của chị là 2/3 giá trị thửa ất này. Anh L không ồng ý với yêu cầu của chị L, anh cho rằng trong thời kỳ hôn nhân, anh có công sức óng góp nhiều hơn trong việc tạo lập tài sản chung, thu nhập của anh hàng tháng khoảng từ 40 triệu ồng ến 50 triệu ồng (ngoài lương anh còn dạy thêm ở trung tâm), trong khi thu nhập của chị Ly chỉ trên 5 triệu ồng/tháng từ lương nên nếu chị Ly yêu cầu tính công sức óng góp nhiều hơn cho chị L ối với thửa ất số 183 thì anh c ng yêu cầu tính côg sực óng góp của anh nhiều hơn trong việc tạo lập các tài sản chung khác. Lởi khai về thu nhập hàng tháng của anh L ược chị L thừa nhận. Cấp sơ thẩm xác ịnh công sức tạo lập tài sản của các bên là như nhau, mỗi người ược chia ½ tài sản chung là úng quy ịnh của pháp luật. êu cầu của chị L là không có sơ sở chấp nhận, vì theo quy ịnh của pháp luật, tài sản ược tặng cho chung là tài sản chung của vợ chồng.
[4 Về chia tài sản bằng hiện vật.
Anh L và chị L có 04 thửa ất, trong ó có hai thửa ất có nhà và 02 thửa ất trống. Cấp sơ thẩm chia cho mỗi bên 01 thửa ất có nhà và 01 thửa ất trống.
Chị Ly kháng cáo yêu cầu ược nhận 03 thửa ất là thửa ất 183 có nhà hiện nay chị ang sử dụng và 2 thửa ất trống tại Đức Tài (thửa số 76 và thửa số 77), giao cho anh L 01 thửa ất có nhà hiện này anh L ang quản lý sử dụng (thửa ất số 351) hoặc là chị nhận 02 thửa ất có nhà (01 thửa hiện chị ang sử dụng và 01 thửa anh L ang sử dụng) và giao cho anh L 02 thửa ất trống. Anh L không ồng ý với yêu cầu của chị Ly, anh L ồng ý với với cách chia của cấp sơ thẩm hoặc ổi lại, anh sẽ nhận các thửa ất mà chị L yêu cầu ược nhận như trên, chị L nhận các thửa ất mà chị Ly có ý kỉến ể lại cho anh, chị L không ồng ý với các phương án anh L ưa ra.
Xét thấy, chị L yêu cầu ược nhận 03 thửa ất và giao cho anh L 01 thửa ất hiện nay anh L ang sử dụng là không hợp lý, vì mỗi thửa ất cói vị trí, giá trị và khả năng sinh lợi khác nhau. Tài sản chung của anh chị có 4 thửa, mỗi người ược giao 02 thửa là hợp lý. Chị L yêu cầu ược nhận 02 thửa ất có nhà và giao cho anh L 02 thửa ât trống c ng không hợp lý, vì nếu chia như vậy anh L sẽ không có chỗ ở nào khác, hơn nữa hiện nay anh c ng ang phải iều trị bệnh.
Khi chia tài sản là quyền sử dụng ất thì phải xem xét ến nhu cầu sử dụng của các bên. Hiện nay anh L ang quản lý, sử dụng nhà và ất tại thửa ất số 351, chị Ly ang quản lý sử dụng nhà và ất tại thửa ất số 183 do vậy giao cho anh L nhà và ất tại thửa ất số 351 và giao cho chị L nhận nhà và ất tại thửa số 183 là phù hợp, nếu giao cả 2 thửa ất có nhà như yêu cầu của chị L thì anh L không có chỗ ở nào khác, ảnh hưởng ến quyền lợi hợp pháp của anh L. Đối với 2 thửa ất trống ở thị trấn Đức Tài thì cấp sơ thẩm giao cho chị L thửa ất có diện tích 128m2, giao cho anh L thửa ất là 100m2 là phù hợp. Như vậy, mỗi người sẽ ược nhận một thửa ất có nhà ở và một thửa ất trống. Giá trị tài sản bên nào ược nhận nhiều hơn thì phải hoản tiền chênh lệch cho bên kia. Do vậy kháng cáo của chị L về nội dung này là không có căn cứ chấp nhận.
[5 Án phí.
Anh L phải chịu các khoản án phí sơ thẩm gồm: Án phí ly hôn 300.000 ; án phí chia tài sản chung 56.402.000 (tính trên số tài sản chung ược chia sau khi trừ i nghĩa vụ trả nợ); án phí thực hiện nghĩa vụ trả nợ là 19.245.000 . Tổng cộng là: 75.947.000 .
Chị Ly phải chịu 67.949.000 án phí chia tài sản chung. Chị Ly không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ Điều 300, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự,
QU T ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 62, Điều 81 và 82 Luật Hôn nhân và Gia ình năm 2014; Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy ịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Công nhận sự thỏa thuận của anh Trần Đức Linh và chị Nguyễn Thị Quỳnh Ly. Sửa Bản án Hôn nhân gia ình sơ thẩm số 97/2018/HNGĐ-ST ngày 14/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.
1.1. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Trần Đức Linh có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi 2 con là Trần Đức Kh, sinh ngày 02/3/2011 và Trần Đức K, sinh ngày 06/10/2015 mỗi tháng 01 triệu ồng/con, 2 con là 2 triệu ồng cho ến khi các con ủ 18 tuổi, có khả năng lao ộng.
1.2. Về nợ: Anh Trần Đức Linh chấp nhận các khoản nợ sau là nợ riêng và anh có trách nhiệm phải trả, cụ thể:
+Anh Trần Đức L phải trả cho anh Phạm Tuấn Anh và chị Dương Thị Hoa số tiền 217.389.000 ồng. Trong ó gồm 200.000.000 ồng tiền gốc và 17.389.000 ồng tiền lãi.
+Anh Trần Đức L phải trả cho Công ty TNHH MTV XM số tiền 167.528.000 ồng.
Kể từ ngày anh Phạm Tuấn Anh, chị Dương Thị Hoa và Công ty TNHH MTV XMcó ơn yêu cầu thi hành án về số tiền anh Trần Đức L phải trả, thì hàng tháng anh L còn phải chịu tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy ịnh tại Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành án.
1.3.Về khoản tiền anh L, chị Ly cho vay:
Anh L, chị Ly thống nhất có cho chị Trần Thị Nhật L vay 80.000.000 . Anh L có trách nhiệm trả cho chị L 40.000.000 .
2.Bác kháng cáo của chị Nguyễn Thị Quỳnh L, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần chia tài sản chung bằng hiện vậtvà tính công sức óng góp vào tài sản chung. Xác ịnh tài sản chung của anh L và chị L trị giá 3.649.938.000 , tính công sức trong việc tạo lập tài sản chung của vợ chồng là như nhau, mỗi người ược chia ½ tài sản chung trị giá 1.824.969.000
-Chia cho anh Trần Đức L ược quyền sử dụng và sở hữu các tài sản sau:
+Nhà, ất và tài sản khác tại số 55 ường số 3, thôn 4, xã ĐL gồm: 2.750m2 ất thổ cư và vườn tạp, tại thửa ất số 351, tờ bản ồ số 13, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số BB 717605; nhà cấp 4b, diện tích 89,06m2; vòm khung sắt mái tôn; giếng ào; hàng rào; máy lọc nước Rostar; tủ quần áo gỗ; tủ lạnh Hatachi; kệ sách gỗ; tủ gỗ kính; tivi toshiba; dàn âmly +loa; bàn gỗ ván ép; máy vi tính hiệu compac; bàn ghế salon gỗ; bàn nhựa học sinh; nệm kim an; két sắt; giường gỗ; máy in Canon; bộ bàn ghế á; máy iều hòa panasonic; xe máy amaha hiệu Jupiter biển số 86B8-28701;
+Đất thổ cư diện tích 100m2 tại thửa ất số 76, tờ bản ồ số 83, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số CA 285481 ược Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 19/4/2016 ứng tên Trần Đức Linh và Nguyễn Thị Quỳnh Ly.
+Anh L ược sở hữu 80.000.000 tiền mặt (thu ược từ việc ầu tư taxi thứ 03 tại công ty TNHH MTV XM, do anh L ang quản lý).
Tổng tài sản anh L ược nhận là 2.541.315 .
-Chia cho chị Nguyễn Thị Quỳnh L ược quyền sử dụng và sở hữu các tài sản sau: Nhà, ất và tài sản khác tại số 183 ường số 3, thôn 4, xã ĐL gồm: 330m2 ất thổ cư và vườn tạp, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số BE 450788 ược UBND huyện ĐL cấp ngày 25/5/2011 ứng tên Trần Đức L và Nguyễn Thị Quỳnh L; nhà cấp 4b, diện tích 101m2; hàng rào; vòm khung sắt mái tôn; hệ thống iện; máy giặt sanyo; bàn chân gỗ mặt á; máy iều hòa LG; giường ván ép; tủ quần áo gỗ; xe honda hiệu Lead biển số 86Z2-1155; Đất thổ cư diện tích 128,3m2 tại thửa ất số 77, tờ bản ồ số 83, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số CA 285482 ược Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 19/4/2016 ứng tên Trần Đức L và Nguyễn Thị Quỳnh L.
Tổng giá trị tài sản là hiện vật chị L ược nhận là1.108.623.000 .
Anh L và chị L có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền ể kê khai, iều chỉnh tên người sử dụng ất và sở hữu tài sản theo quy ịnh của pháp luật.
3. Hoàn lại bằng tiền.
Anh L phải hoàn trả cho chị L 716.346.000 tiền chênh lệch tài sản ược nhận. Cộng với số tiền 40.000.000 anh L thỏa thuận trả cho chị L (anh L, chị L xác ịnh có cho chị Trần Thị Nhật L vay 80.000.000 như thỏa thuận ở phần trên). Tổng cộng hai khoản trên, anh L có trách nhiệm trả cho chị Ly 756.346.000 .
Kể từ ngày chị Nguyễn Thị Quỳnh L có ơn yêu cầu thi hành án về số tiền anh Trần Đức L phải thanh toán, thì hàng tháng anh L còn phải chịu tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy ịnh tại Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành án.
4. Về chi phí ịnh giá: Anh L phải chịu 1.500.000 ồng; chị L phải chịu 1.500.000 ồng. Chị L phải trả số tiền 1500.000 cho anh L.
5. Về án phí:
Anh Trần Đức L phải chịu 75.947.000 ồng án phí sơ thẩm. Được khấu trừ 11.812.500 tạm ứng án phí anh L ã nộp theo biên lai số 0018017 ngày 15/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐL. Anh L còn phải tiếp tục nộp 64.134.500 .
Chị Nguyễn Thị Quỳnh L phải chịu 67.949.000 án phí sơ thẩm.
Anh Phạm Tuấn A không phải chịu án phí sơ thẩm, ược trả lại số tiền 5.000.000 ồng tạm ứng án phí ã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0018064 ngày 05/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐL.
Công ty TNHH MTV XM không phải chịu án phí sơ thẩm, ược trả lại số tiền 4.188.000 ồng tạm ứng án phí ã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0018067 ngày 05/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐL.
Chị Nguyễn Thị Quỳnh L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho chị Ly 300.000 tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm ã nộp tại Chi cục Thi hàn án dân sự huyện ĐL theo Biên lai số 0018882 ngày 27/11/2018.
Trường hợp bản án, quyết ịnh ược thi hành theo quy ịnh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người ược thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui ịnh tại các iều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án ược thực hiện theo quy ịnh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các quyết ịnh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 18/4/2019).
| Nơi nhận: -Đương sự; -VKSND tỉnh Bình Thuận; -TAND huyện Đức Linh; -THADS huyện Đức Linh; - Tổ HCTP; -Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( ã ký) Nguyễn Văn Quản |