vanban.org

Bản án 04/2019/H-ST

TAND huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 16/01/2019 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội: “Làm giả con dấu, tài liệu cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Anh T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Tội làm giả con dấu, tài liệu cơ quan, tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội: “Làm giả con dấu, tài liệu cơ quan, tổ chức”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHI XUÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2019/HSST
Ngày 16/01/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Đức và ông Ngô Đăng Ký.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Bích - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Lượng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2019 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2018/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

LÊ ANH T - Giới tính: Nam - Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 15 tháng 3 năm 1969 tại: tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Minh Q, xã Tiên Đ, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Con ông: Lê Hồng Đ

Sinh năm: 1945; Con bà: Trần Thị L. Sinh năm: 1949; Vợ: Hà Thị D.

Sinh năm: 1981; Con: Có ba đứa, đứa lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2007; Anh chị em ruột: Có 4 người, bị can là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 30/7/2008 bị tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 3 năm 3 tháng tù giam về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Chấp hành hình phạt ngày 11/3/2009 đến ngày 30/8/2010 được đặc xá theo quyết định số 70; Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, tại ngoại tại địa phương nay có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1, Đậu Thị T1 - Sinh năm 1982; Nghề nghiệp: Lao động tự do Địa chỉ: Khối A, thị trấn Xuân A, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt)

2, Hoàng K - Sinh năm 1963; Nghề nghiệp: Lao động tự do Địa chỉ: Khối A, thị trấn Xuân An huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt)

- Người làm chứng:

+ Nguyễn Thị Thu T - Sinh năm 1992 Địa chỉ: Khối Trung N, phường Đông V, T.P Vinh, Nghệ An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 6/2018, Lê Anh T thông qua một người đàn ông tên Khoái, biết được Đậu Thị T1 trú tại tổ dân phố A thị trấn Xuân A, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh muốn làm hộ chiếu, giấy chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe mang tên người khác và nhiều tuổi hơn nhưng dán ảnh của T1. Sau đó K cho T số điện thoại của T1 để T liên lạc. Mấy ngày sau T gọi điện thoại hỏi T1 thì T1 xác nhận muốn làm ba loại giấy tờ trên nhưng nhiều tuổi hơn, muốn thay tên khác. T1 hỏi T có làm được không thì T nói để T nhờ người làm cho và bảo T1 đưa cho T 04 tấm ảnh chân dung 3 x 4cm và tiền công là 4.000.000đ (bốn triệu) đồng, đặt cọc trước 2.000.000đ (hai triệu) đồng, khi nào xong giấy tờ thì giao nốt 2.000.000đ (hai triệu) đồng, T1 đồng ý. Ba ngày sau T hẹn T1 đến thị trấn Nghi Xuân để giao ảnh và tiền đặt cọc.

Do trước đây T nhặt được một cuốn hộ chiếu mang tên Dương Thị H, địa chỉ Nghệ An nên sau khi nhận ảnh của T1, T sử dụng máy tính để tạo ra một trang mạng thông tin gần tương tự Hộ chiếu ban đầu, với nội dung họ và tên: Dương Thị H, sinh ngày 18/8/1974, địa chỉ Nghệ An rồi dán ảnh của Đậu Thị T1 vào trang thông tin cá nhân trong hộ chiếu. Ngoài ra, T sử dụng máy tính có kết nối mạng internet để tải phôi giấy chứng minh nhân dân, phôi giấy phép lái xe trên mạng về, sau đó điền thông tin Dương Thị H, SN 18/8/1974, trú tại xã Diễn T, Diễn C, Nghệ An, số CMND: 186193089, số giấy phép lái xe: AR637584 trên phôi giấy CMND và phôi giấy phép lái xe, rồi dùng máy in màu của gia đình để in ra hai loại giấy tờ trên, dùng đồng xu đóng dấu nổi lên các loại giấy tờ này rồi mang đi ép plasstic. Ngày 20/8/2018, T1 gọi cho T nói cần các giấy tờ này để vào Nam chăm mẹ ốm. Khoảng 9h ngày 21/8/2018, T hẹn T1 đến quán cà phê Nhạc Trịnh ở khối 8A, thị trấn Xuân An giao ba loại giấy tờ giả nói trên cho T1 và nhận từ T1 2.000.000đ (hai triệu) đồng còn lại.

Vào lúc 11h50’ ngày 23/8/2018, Đậu Thị T1 đến làm thủ tục lên máy bay tại cảng hàng không quốc tế Vinh để bay vào TP Hồ Chí Minh. Qua kiểm tra, lực lượng an ninh hàng không sân bay phát hiện Đậu Thị T1 sử dụng một cuốn hộ chiếu mang tên Dương Thị H, SN 18/8/1974, trú tại xã Diễn T, Diễn C, Nghệ An có số bên trong ghi là B9125612, bên ngoài ghi B6534879, An ninh hàng không phát hiện hộ chiếu không hợp lệ nên yêu cầu T1 xuất trình giấy tờ khác thì Đậu Thị T1 không xuất trình nhưng sau đó do sợ nên tiếp tục xuất trình giấy CMND và giấy phép lái xe đều mang tên Dương Thị H. Nghi vấn ba loại giấy tờ này là giả nên an ninh hàng không đã tạm dừng việc làm thủ tục lên máy bay cho Đậu Thị T1 và chuyển hồ sơ cho an ninh điều tra công an tỉnh Nghệ An để điều tra, xử lý.

Khoảng 20h ngày 23/8/2018, Lê Anh T đã đến cơ quan an ninh điều tra công an tỉnh Nghệ An để xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 24/8/2018, cơ quan an ninh điều tra công an tỉnh Nghệ An tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở Lê Anh T, thu giữ 01 CPU máy tính nhãn hiệu HỒNG HÀ, 01 CPU máy tính nhãn hiệu COOLERPLUS, 01 màn hình máy tính, 01 máy in màu. Cơ quan an ninh điều tra cùng VKS tỉnh Nghệ An đã tiến hành mở niêm phong để kiểm tra, trích xuất dữ liệu trong 02 CPU trên nhưng đều đã bị hỏng, không tiến hành kiểm tra được.

Ngày 28/8/2018, cơ quan an ninh điều tra công an tỉnh Nghệ An tiến hành trưng cầu giám định 03 loại giấy tờ nghi là giả gồm: một cuốn hộ chiếu có số bên trong ghi là B9125612, bên ngoài ghi B6534879, 01 giấy CMND số 186193089, 01 giấy phép lái xe số: AR6377584 đều mang tên Dương Thị H, SN 18/8/1974, trú tại xã Diễn T, Diễn C, Nghệ An.

Tại kết luận giám định số 283/KL-PC09 ngày 05/9/2018 kết luận: “Toàn bộ trang 02 trong quyển hộ chiếu mặt ngoài ghi số B6534879, mặt trong ghi số B9125612 mang tên Dương Thị H được làm bằng phương pháp sao chụp in màu, dán thay thế toàn bộ nội dung nguyên thủy, các trang còn lại đúng với các trang trong quyển hộ chiếu so sánh; Giấy chứng minh nhân dân số 186193089 mang tên Dương Thị H là giả; giấy phép lái xe số AR6377584 mang tên Dương Thị H là giả”

Ngày 20/9/2018, cơ quan An ninh điều tra công an tỉnh Nghệ An đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Anh T về tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Ngày 03/10/2018 đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cùng vật chứng đến cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh để điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, đã thu giữ của Đậu Thị T1 một điện thoại di động nhãn hiệu itel màu xanh đen, thu giữ của Lê Anh T một điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng gắn thẻ sim 0915.656.798 và một điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 6300 màu vàng, bên trong gắn thẻ sim số 0987695798. Qua công tác trích xuất giữ liệu, cơ quan điều tra xác định chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 6300 màu vàng, bên trong gắn thẻ sim số 0987695798 và 01 CPU máy tính nhãn hiệu HỒNG HÀ không liên quan đến hành vi phạm tội nên đã trả lại cho Lê Anh T.

Ngày 24/10/2018, Lê Anh T đã tự nguyện đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân nộp lại số tiền 4.000.000đ (bốn triệu) đồng, đã thu lợi bất chính từ việc làm giả giấy tờ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Có người đàn ông tên K gọi điện thoại giới thiệu cho Lê Anh T để nhờ làm giấy tờ cho Đậu Thị T1, quá trình điều tra chưa xác định được việc K có điện thoại cho T nhờ làm hay không.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án Đậu Thị T1 sau khi T điện thoại sẽ làm cho T1 ba loại giấy tờ giả đã sử dụng quyển hộ chiếu trong đó đã làm giả tờ thứ hai mặt trong của quyển hộ chiếu thật mang tên Dương Thị H để ra sân bay đi vào thành phố Hồ Chí Minh chăm mẹ ốm.

* Vật chứng thu giữ:

+ Các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án huyện Nghi Xuân:

- 01 (một) quyển hộ chiếu mặt ngoài ghi số B6534879, mặt trong ghi số B9125612 mang tên Dương Thị H, địa chỉ Nghệ An; 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 186193089, mang tên Dương Thị H, sinh ngày 18/8/1974, địa chỉ xã Diễn T, Diễn C, Nghệ An; 01(một) giấy phép lái xe số AR6377584 mang tên Dương Thị H, 01 điện thoại di động nhãn hiệu itel màu xanh đen thu giữ của Đậu Thị T1;

- 01 (một CPU) nhãn hiệu COOLERPLUS, 01 (một) màn hình máy tính màu đen nhãn hiệu SAMSUNG, 01 (một) máy in màu đen nhãn hiệu EPSON, 01 điện thoại di động NOKIA 6300 màu vàng, bên trong gắn thẻ sim số 098769579801thu giữ của Lê Anh T

+ Các vật chứng hiện đã trả lại cho sở hữu chủ: 01 điện thoại di động NOKIA 6300 màu vàng, bên trong gắn thẻ sim số 098769579801; 01 CPU máy tính nhãn hiệu HỒNG HÀ đã trả lại cho Lê Anh T.

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKSNX ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Lê Anh T về tội “Làm giả tài liệu, con dấu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Nghi Xuân vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 341 BLHS

Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội: “Làm giả tài liệu, con dấu của cơ quan, tổ chức” Xử phạt: Bị cáo Lê Anh T mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Về vật chứng vụ án và biện pháp tư pháp: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) quyển hộ chiếu mặt ngoài ghi số B6534879, mặt trong ghi số B9125612 mang tên Dương Thị H, địa chỉ Nghệ An; 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 186193089, mang tên Dương Thị H, sinh ngày 18/8/1974, địa chỉ xã Diễn T, Diễn C, Nghệ An; 01(một) giấy phép lái xe số AR6377584 mang tên Dương Thị H.

Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu itel màu xanh đen thu giữ của Đậu Thị T1;

- 01 (một CPU) nhãn hiệu COOLERPLUS,

- 01 (một) màn hình máy tính màu đen nhãn hiệu SAMSUNG,

- 01 (một) máy in màu đen nhãn hiệu EPSON

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng gắn thẻ sim 0915.656.798; thu giữ của Lê Anh T

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) bị cáo Lê Anh T đã thu lợi bất chính mà có trong vụ án.

Tại phiên tòa bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng ý với luận tội của Kiểm sát viên, không có tranh luận và chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Cơ quan điều tra Công an và Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vụ án này cơ quan an ninh điều tra công an tỉnh Nghệ An đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Anh T về tội” Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Ngày 03/10/2018 đã chuyển hồ sơ vụ án cùng các vật chứng đến cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh để điều tra theo thẩm quyền là đúng quy định pháp luật.

Về sự vắng mặt của người làm chứng. Xét thấy những người này đã được triệu tập hợp lệ. Tại hồ sơ đã có đủ lời khai nên Hội đồng xét xử căn cứ điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt người này.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Anh T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lê Anh T là đối tượng có nhân thân xấu đã có 1 lần bị kết án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả tài liệu cơ quan, tổ chức” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để làm ăn lương thiện là con trai cả trong gia đình có đông anh chị em đều là cán bộ nhà nước nhưng không làm gương để cho em út học tập mà lại sa vào con đường lầm lỗi hết lần này đến lượt khác thể hiện lần này bị cáo vì muốn có tiền tiêu xài mà làm giả trang thứ hai quyển hộ chiếu mang tên Dương Thị H, 1 giấy chứng minh nhân dân và một Giấy phép lái xe mang tên Dương Thị H để hưởng lợi 4 triệu đồng. Như vậy hành vi của bị cáo là đã làm 3 loại tài liệu giả mà theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật hình sự thì “Làm từ hai đến 5con dấu hoặc tài liệu hoặc giấy tờ khác” thì đã phạm vào tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, Vậy nên, bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật và không oan sai nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên Tòa Đại diện Viện kiểm sát đề xuất hình phạt đối với bị cáo với mức án từ 24 đến 30 tháng tù nghĩ là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tính chất, mức độ của hành vi: Xét hành vi tính chất phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì đã lợi dụng nghề nghiệp của gia đình mình có máy in màu đã thực hiện việc thay đổi làm giả 3 loại tài liệu của cơ quan tổ chức cụ thể đã sửa chữa thêm bớt trang của bản gốc nguyên thủy của sổ hộ chiếu thay đổi nội dung hình thức trang thứ hai của hộ chiếu, làm giả chứng minh nhân dân và Giấy phép lái xe nhằm hưởng lợi bất chính cho bản thân , nhân thân xấu năm 2008 đã bị Tòa án tỉnh Nghệ An xử phạt 3 năm 3 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức. Do vậy cần phải xử lý nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo bị cáo thành người lương thiện và làm bài học giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét cho bị cáo phần nào vì: Quá trình điều tra sau khi sự việc bị phát hiện bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải và đã tự nguyện nộp số tiền thu lợi bất chính, hoàn cảnh gia đình khó khăn đang ốm đau bệnh tật nghĩ nên giảm nhẹ cho bị cáo phần nào nhưng cũng xử phạt bị cáo ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ nghiêm, phù hợp với quan điểm đề xuất của vị đại diện VKS đối với bị cáo với mức án từ 24 đến 30 tháng tù nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện nay đang rất khó khăn bản thân đang mắc nhiều bệnh hiểm nghèo và đang phải chữa trị cho nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo nghĩ là phù hợp nên miễn xét.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã khắc phục hậu quả nộp lại số tiền thu lợi bất chính cho cơ quan thi hành án. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là đúng với quy định của pháp luật.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Lê Anh T khai có đối tượng là Hoàng K gọi điện thoại giới thiệu cho Lê Anh T để nhờ làm giấy tờ cho Đậu Thị T1, quá trình điều tra chưa xác định được đối tượng Hoàng K như bị cáo T đã khai báo. Tại phiên tòa T cũng thừa nhận không có mối quan hệ gì với K chỉ biết qua điện thoại giới thiệu tên là K, cho nên chưa thể xác định được địa chỉ lai lịch của K có hành vi phạm tội hay không, đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ nếu có căn cứ sẽ phải xử lý K theo mức độ hành vi phạm tội.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án Đậu Thị T1 sau khi T điện thoại sẽ làm cho T1 ba loại giấy tờ giả, đã sử dụng quyển hộ chiếu trong đó đã làm giả tờ thứ hai mặt trong của quyển hộ chiếu thật mang tên Dương Thị H để ra sân bay đi vào thành phố Hồ Chí Minh chăm mẹ ốm. Quá trình bị nhân viên an ninh sân bay phát hiện hộ chiếu mang tên Dương Thị H là giả đã yêu cầu T1 xuất trình các loại giấy tờ khác lúc đó mới phát hiện thêm hai loại giấy tờ giả là chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe cho nên việc Đậu Thị T1 đã sử dụng hộ chiếu để xuất trình khi mua máy bay, chưa sử dụng các loại giấy tờ như chứng minh nhân và Giấy phép lái xe vào mục đích phạm tội nào chưa gây ra hậu quả, bản thân nhận thức pháp luật còn hạn chế sau khi bị nhân viên an ninh sân bay phát hiện thu hộ chiếu và tiến hành lập biên bản T1 đã gọi điện liên lạc cho T hỏi giấy tờ mà T làm cho T1 là giả hay thật thể hiện nhận thức của T1 còn hạn chế, phù hợp với lời trình bày tại phiên tòa T1 không được học hành đến nơi đến chốn mới học đến lớp 3 là giáo dân cho nên nghe họ nói làm được hộ chiếu tăng tuổi lên sẽ được đi nước ngoài lao động lương sẽ cao hơn nên khi T điện thoại hỏi làm được với giá 4 triệu đồng thì đồng ý làm luôn chứ không nghĩ đến hậu quả, cho nên với mức độ hành vi sử dụng giấy tờ giả để mua vé máy bay của T1 đã sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức, tuy nhiên hành vi của T1 không có thủ đoạn, động cơ, mục đích nhằm vụ lợi vi phạm pháp luật mục đích đạt được mua vé lên tàu bay để vào TP HCM chăm sóc mẹ đang điều trị bệnh, hành vi của T1 chưa để lại hậu quả thiệt hại cho cơ quan tổ chức hay cá nhân đặc biệt là không gây ảnh hưởng đến chuyến bay, bản thân là giáo dân từ trước chấp hành tốt quy định của pháp luật và địa phương, nhân thân tốt chưa lần nào phạm tội cho nên việc cơ quan điều tra đã không xém xét trách nhiệm hình sự mà xử lý xử phạt vi phạm hành chính đối với Đậu Thị T1 về hành vi sai phạm được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 9 Nghị định 176/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 và T1 đã nộp phạt 03 (ba) triệu đồng vào ngân sách Nhà nước vào ngày 13/11/2018, nay đã thi hành xong nên miễn xét.

Về vật chứng vụ án và biện pháp tƣ pháp.

Về vật chứng: Hiện đang lưu giữ tại cơ quan thi hành án huyện Nghi Xuân gồm: 01 (một) quyển hộ chiếu mặt ngoài ghi số B6534879, mặt trong ghi số B9125612 mang tên Dương Thị H, địa chỉ Nghệ An; 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 186193089, mang tên Dương Thị H, sinh ngày 18/8/1974, địa chỉ xã Diễn T, Diễn C, Nghệ An; 01(một) giấy phép lái xe số AR6377584 mang tên Dương Thị H.

Cần tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước các vật chứng liên quan đến việc phạm tội gồm:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu itel màu xanh đen thu giữ của Đậu Thị T1;

- 01 (một CPU) nhãn hiệu COOLERPLUS,

- 01 (một) màn hình máy tính màu đen nhãn hiệu SAMSUNG,

- 01 (một) máy in màu đen nhãn hiệu EPSON

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng gắn thẻ sim 0915.656.798; thu giữ của Lê Anh T

+ Các vật chứng hiện đã trả lại cho sở hữu chủ: 01 điện thoại di động NOKIA 6300 màu vàng, bên trong gắn thẻ sim số 098769579801; 01 CPU máy tính nhãn hiệu HỒNG HÀ đã trả lại cho Lê Anh T miễn xét.

Nên tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) bị cáo Lê Anh T đã thu lợi bất chính mà có, nay bị cáo Lê Anh T đã nộp tại cơ quan thi hành án vào ngày 24/10/2018 tại biên lai thu tiền số 0000477 nay bị cáo đã nộp đủ không phải nộp thêm.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 341 điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; khoản 2 Điều 106; khoản 2, Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 điều 21, ®iÓm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội: “Làm giả con dấu, tài liệu cơ quan, tổ chức”.

- Xử phạt: Bị cáo Lê Anh T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

2. Về vật chứng và biện pháp tư pháp:

+ Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau: 01 (một) quyển hộ chiếu mặt ngoài ghi số B6534879, mặt trong ghi số B9125612 mang tên Dương Thị H, địa chỉ Nghệ An; 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 186193089, mang tên Dương Thị H, sinh ngày 18/8/1974, địa chỉ xã Diễn T, Diễn C, Nghệ An; 01(một) giấy phép lái xe số AR6377584 mang tên Dương Thị H.

+ Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu itel màu xanh đen thu giữ của Đậu Thị T1;

- 01 (một CPU) nhãn hiệu COOLERPLUS,

- 01 (một) màn hình máy tính màu đen nhãn hiệu SAMSUNG,

- 01 (một) máy in màu đen nhãn hiệu EPSON

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng gắn thẻ sim 0915.656.798 thu giữ của Lê Anh T

(Tình trạng đặc điểm của các vật chứng nêu trên cụ thể tại biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra và cơ quan thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân ngày 03/12/2018).

+ Tịch thu số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước, bị cáo Lê Anh T đã nộp đủ tại cơ quan thi hành án vào ngày 24/10/2018 tại biên lai thu tiền số 0000477.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Anh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên có mặt có quyền kháng cáo lên tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ