- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bản án dân sự"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu c u khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại c ph n sài gòn T.
- Căn cứ chính? Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:04/2019/DS-ST. Ngày:26/4/2019 V/v:“Kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Mai.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông N ng Thanh T y.
2. Ông Nguyễn Đình Nghịch.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhị, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kr ng Pắc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 26/4/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kr ng Pắc xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 82/2018/TLST-DS, ngày 03 tháng 5 năm 2018 về việc: “Kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2019/QĐXXST-DS, ngày 25 tháng 03 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa 07/2019/QĐST-DS, ngày 10 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại c ph n sài gòn T (Sacombank).
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D Chức vụ: T ng Giám đốc.
Địa chỉ: Số 266 -268, Nam K, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền khởi kiện: Ông Nguyễn Phạm Đình V; Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại c ph n sài gòn T chi nhánh Đắk Lắk. (Theo Giấy ủy quyền số 3898/2017/GUQ -PL, ngày 14 tháng 12 năm 2017).
Địa chỉ: số nhà 130 -132, đường Lê Hồng P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Quang H, sinh năm: 1961; Chức vụ: Trưởng phòng kiểm soát rủi ro – Ngân hàng Thương mại c ph n sài gòn T, chi nhánh Đắk Lắk.(C m t)
2. Bị đơn: Bà Tr n Thị H; Sinh năm 1984.(Vắng m t).
Địa chỉ: Th n Tân Q, xã K, huyện P, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m tắt như sau:
* Theo đơn khởi kiện, ngày 0 201 và tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền c a nguyên đơn ông Nguy n Quang H trình bày:
Vào ngày 03/9/2014 Ngân hàng Thương mại c ph n sài Gòn T, chi nhánh Đắk Lắk, ký hợp đồng tín dụng số LD424600410 với chị Tr n Thị H, địa chỉ: th n Tân Q, xã K, huyện P, tỉnh Đắk Lắk. Theo hợp đồng Ngân hàng Thương mại c ph n Sài Gòn T, chi nhánh Đắk Lắk cho chị Tr n Thị H vay số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), lãi suất tính 9%/ năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Thời hạn vay là 48 tháng, được chia làm 48 kỳ, mỗi kỳ trả 1.416.000đ, trong đ trả 1.041.000đ tiền vay gốc và tiền lãi 375.000đ. Trả vào ngày 28 hàng tháng, l n trả nợ đ u tiên vào ngày 28/10/2014 và thời hạn trả nợ cuối c ng vào ngày 03/9/2018, mục đích vay: Vay tiêu d ng, hình thức vay tín chấp.
Kể t khi vay cho đến ngày 28/3/2016 chị Tr n Thị H mới trả cho Ngân hàng được 18.738.000đ tiền vay gốc và trả tiền lãi suất đến ngày 02/4/2016 là 6.750.000đ. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 26/4/2019, chị Tr n Thị H còn nợ Ngân hàng số tiền vay gốc 31.262.000đ, tiền lãi trong hạn 13.902.928đ và tiền lãi quá hạn 6.951.464đ.
Vì vậy Ngân hàng Thương mại c ph n sài gòn T khởi kiện yêu c u Toà Án giải quyết buộc chị Tr n Thị H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền vay gốc và lãi suất phát sinh tính đến ngày 26/4/2019 là 52.116.392đ và khoản tiền nợ lãi suất phát sinh kể t ngày 27/4/2019 theo hợp đồng tín dụng số LD1424600410, ngày 03/9/2014 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.
Sau khi thụ lý vụ án, ngày 7/5/2018, Tòa án nhân dân huyện Kr ng Pắc đã tiến hành xác minh hộ khẩu thường tr và địa chỉ nơi cư tr của chị Tr n Thị H tại C ng an xã Ea Kênh và được cung cấp th ng tin như sau: “ Chị Tr n Thị H, sinh năm 1984 c đăng ký hộ khẩu thường tr và cư tr tại th n T, xã K, huyện P tại quyển s số 01, tờ số 27/01, chủ hộ là ông Tr n Văn X. T năm 2016, chị Tr n Thị H đã đi kh i địa phương. Hiện nay địa phương kh ng biết chị H sinh sống và cư tr ở đâu”.
Để c cơ sở pháp lý giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Kr ng Pắc tiến hành niêm yết Th ng báo thụ lý vụ án, triệu tập chị Tr n Thị H đến Tòa án lập bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, c ng khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị H vắng m t kh ng c lý do. Áp dụng Khoản 3 Điều 209 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, c ng khai chứng cứ và hòa giải vắng m t chị Tr n Thị H theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp khi tham gia tố tụng của bị đơn chị Tr n Thị H, ngày 7/9/2018 Tòa án nhân dân huyện Kr ng Pắc đã ra th ng báo tìm kiếm người vắng tại nơi cư tr số 74/2018/TB-TA gửi Báo Công Lý và Đài tiếng nói Việt Nam – khu vực Tây Nguyên với nội dung:
“Th ng báo cho chị Tr n Thị H, đang ở đâu về ngay Toà án nhân dân huyện Kr ng Pắc, tỉnh Đắk Lắk. Địa chỉ: 271 đường P, thị trấn P, huyện P, tỉnh Đắk Lắk để giải quyết việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Ngân hàng Thương mại c ph n sài gòn Tvà chị Tr n Thị H. Trong thời hạn 02 tháng kể t ngày đăng th ng báo này nếu chị H kh ng c m t thì Toà án nhân dân huyện Kr ng Pắc, tỉnh Đắk Lắk s giải quyết theo quy định của Pháp luật ”. Th ng báo trên đã được Đài tiếng n i Việt Nam th ng báo 03 l n liên tiếp vào các ngày 15, ngày 16 và ngày 17/9/2018 và được Báo c ng lý đăng 03 số liên tiếp vào các ngày 03, ngày 05 và ngày 10/10/2018.”
Hết thời hạn th ng báo, chị Tr n Thị H v n kh ng c m t tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kr ng Pắc để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 203, Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Ph n tranh luận:
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ng Nguyễn Quang H trình bày ý kiến tranh luận: Việc chị Tr n Thị H xác lập hợp đồng và vay của Ngân hàng Thương mại c ph n sài gòn T, chi nhánh Đắk Lắk số tiền 50.000.000đ vay gốc là c thật. T khi vay cho tính đến ngày 28/3/2016 chị Tr n Thị H mới trả cho Ngân hàng được 18.738.000đ tiền vay gốc và trả tiền lãi suất đến ngày 02/4/2016 là 6.750.000đ. Kể t đ đến nay chị H kh ng trả cho ngân hàng như đã th a thuận trong hợp đồng là vi phạm nghĩa vụ của bên vay, vì vậy Ngân hàng làm đơn khởi kiện yêu c u Tòa án giải quyết buộc chị Tr n Thị H c trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại c ph n sài gòn T số tiền vay gốc và lãi suất phát sinh tính đến ngày 26/4/2019 là 52.116.392đ và khoản lãi suất phát sinh t ngày 27/4/2019 theo hợp đồng tín dụng số LD1424600410, ngày 03/9/2014 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.
- Bị đơn chị Tr n Thị H vắng m t tại phiên tòa.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kr ng Pắc tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tiếp nhận đơn khởi kiện, thẩm quyền giải quyết vụ án, thụ lý và ra thông báo thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách tham gia tố tụng đ ng theo quy định của pháp luật. Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận c ng khai chứng cứ và hòa giải đảm bảo quyền tham gia tố tụng của các bên.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Hội đồng xét xử, Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ng Nguyễn Quang H đã thực hiện đ ng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Thành ph n Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đ ng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Bị đơn chị Tr n Thị H m c d đã được Tòa án th ng báo tìm kiếm người vắng m t tại nơi cư tr và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị H vắng m t tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, c ng khai chứng cứ và hòa giải, vắng m t tại phiên tòa là vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, Điều 73, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Viện kiểm sát nhân dân huyện Kr ng Pắc đề nghị HĐXX: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 và đề nghị HĐXX tuyên: Chấp nhận toàn bộ yêu c u khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại c ph n Sài Gòn T. Buộc chị Tr n Thị H c trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại c ph n sài sòn T số tiền vay gốc và lãi suất phát sinh tính đến ngày 26/4/2019 là 52.116.392đ và khoản tiền lãi suất phát sinh t ngày 27/4/2019 theo hợp đồng tín dụng số LD1424600410, ngày 03/9/2014 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét về hình thức: Căn cứ đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại c ph n sài gòn T lập ngày 06 tháng 4 năm 2018, Toà án nhân dân huyện Kr ng Pắc xác định quan hệ pháp luật: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xét thấy bị đơn chị Tr n Thị H, đăng ký hộ khẩu thường tr tại thôn Q, xã K, huyện P, tỉnh Đắk Lắk và tại thời điểm xác lập hợp đồng vay với ngân hàng, chị H ghi địa chỉ trong hợp đồng là th n Q, xã K, huyện P, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc thụ lý giải quyết vụ án là đ ng thẩm quyền.
Xét thấy Tòa án nhân dân huyện Kr ng Pắc đã niêm yết hợp lệ cho bị đơn chị Tr n Thị H, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy báo tham gia phiên tòa nhưng chị H vắng m t l n thứ hai. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Xét về nội dung: Xét yêu c u khởi kiện của Ngân hàng Thương mại c ph n Sài gòn T yêu c u Hội đồng xét xử (HĐXX) buộc chị Tr n Thị H trả cho Ngân hàng Thương mại c ph n sài gòn T 31.262.000đ tiền vay gốc, HĐXX nhận định: Ngày 03/9/2014 chị Tr n Thị H xác lập Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Thương mại c ph n sài gòn T - Chi nhánh Đắk Lắk.Theo hợp đồng tín tín dụng số LD1424600410, chị H vay của Ngân hàng số tiền 50.000.000đ. Việc ký kết hợp đồng tín dụng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, nội dung hợp đồng kh ng trái đạo đức xã hội, kh ng trái với quy định của pháp luật. Theo hợp đồng tín dụng đã ký kết thì chị Tr n Thị H c trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng làm 48 tháng (Kỳ), mỗi tháng (Kỳ) trả 1.416.000đ, trong đ trả 1.041.000đ tiền gốc và tiền lãi 375.000đ. L n trả nợ đ u tiên vào ngày 28/10/2014 và thời hạn (Kỳ hạn) trả nợ cuối c ng vào ngày 03/9/2018. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng tính đến ngày 28/03/2016 chị Tr n Thị H mới trả được cho ngân hàng 18 kỳ trả nợ với t ng số tiền vay gốc và trả lãi suất đến ngày 02/4/2016 là 25.488.000đ. Số tiền vay gốc còn lại là 31.262.000đ chị H kh ng trả cho ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo hợp đồng đã ký kết và theo quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự.
Tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật c ng loại đ ng số lượng, chất lượng, tr trường hợp c thoả thuận khác”.
Căn cứ điều luật viện d n nêu trên, xét thấy yêu c u khởi kiện của nguyên đơn là c căn cứ. Vì vậy HĐXX áp dụng Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự buộc chị Tr n Thị H phải c trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại c ph n Sài gòn Thương Tín 31.262.000 đồng tiền vay gốc là đ ng theo quy định của pháp luật.
Về lãi suất: Theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, lãi suất các bên th a thuận 9%/ 1 năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Ngoài ra hai bên còn th a thuận t y thuộc vào tình hình lãi suất trên thị trường, Sacombank c quyền đề nghị thương lượng lãi suất với bên vay. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, lãi suất được điều chỉnh như sau: T ngày 03/9/2014 đến ngày 03/9/2018 lãi suất trong hạn được thực hiện theo hợp đồng là 9%/năm đối với khoản tiền vay gốc 50.000.000đ, t ngày 04/9/2018 cho đến ngày xét xử sơ thẩm lãi suất trong hạn được điều chỉnh lên 13%/ 1 năm đối với khoản tiền vay nợ gốc còn lại 31.262.000đ. Áp dụng mục 3 ph n I Th ng Tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19 tháng 6 năm 1997 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp và Bộ tài chính và thoả thuận việc điều chỉnh lãi suất của các bên để tính lãi suất theo đ ng hợp đồng đã ký kết kể t khi giao dịch cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ gốc và lãi phát sinh theo th a thuận trong hợp đồng. Tiền nợ lãi được tính cụ thể như sau:
- Tiền lãi suất trong hạn:
+ T ngày 03/4/2016 đến ngày 03/09/2018 là 30 tháng: 50.000.000đ x 9%/năm x 30 tháng = 11.250.000đ.
+ T ngày 04/9/2018 đến ngày 26/4/2019 là 235 ngày: 31.262.000đ x 13%/năm x 235 ngày/30 = 2.652.928đ.
- Tiền lãi suất quá hạn:
+ T ngày 03/4/2016 đến ngày 03/09/2018 là 30 tháng: 50.000.000đ x 4.5%/năm x 30 tháng = 5.625.000đ.
+ T ngày 04/9/2018 đến ngày 26/4/2019 là 235 ngày: 31.262.000đ x 6.5%/năm x 235 ngày/30 = 1.326.464đ.
T ng cộng tiền lãi suất trong hạn và lãi quá hạn còn nợ là: 20.854.392đ.
Như vậy, t ng cộng số tiền vay gốc và lãi suất buộc chị Tr n Thị H c nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại c ph n sài sòn T tính đến ngày 26/4/2019 với t ng số tiền là 52.116.392đ. Kể t ngày tiếp theo của ngày 27/4/2019 chị Tr n Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên th a thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên c th a thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo t ng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng s được điều chỉnh cho ph hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
[ ] Về tiền chi ph thông áo tìm ki m người vắng m t tại nơi cư trú: Căn cứ khoản 2 Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận Ngân hàng Thương mại c ph n sài gòn T tự nguyện nộp 3.500.000đ tiền th ng báo tìm kiếm người vắng m t tại nơi cư tr trên Đài tiếng n i Việt Nam – khu vực Tây Nguyên và Báo c ng lý, được khấu tr vào 3.500.000đ tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại Tòa án.
Về án ph : Do Tòa án nhân dân huyện Kr ng Pắc chấp nhận toàn bộ yêu c u khởi kiện của Ngân hàng Thương mại c ph n sài gòn T buộc chị Tr n Thị H c trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại c ph n Sài gòn T số tiền 52.116.392đ. Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án. Buộc chị Tr n Thị H phải chịu 2.605.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm, theo mức tính: 52.116.392đ x 5% = 2.605.000đ (Làm tròn số).
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại c ph n sài gòn T số tiền 781.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2017/0005036, ngày 03/5/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kr ng Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 180, Điều 203, khoản 3 Điều 209, Điều 220, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án.
Căn cứ Điều 463, khoản 1 Điều 466, khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu c u khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại c ph n sài gòn T.
Buộc chị Tr n Thị H c trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại c ph n sài sòn T số tiền vay gốc và lãi suất phát sinh tính đến ngày 26/4/2019 là 52.116.392đ. Trong đ tiền vay gốc là 31.262.000đ, tiền lãi suất trong hạn 13.902.928đ, lãi suất quá hạn là 6.951.464đ.
Kể t ngày tiếp theo của ngày 26/4/2019 chị Tr n Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên th a thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên c th a thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo t ng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng s được điều chỉnh cho ph hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Về tiền chi phí th ng báo tìm kiếm người vắng m t tại nơi cư tr : Chấp nhận Ngân Thương mại c ph n Sài gòn T tự nguyện nộp 3.500.000đ tiền th ng báo tìm kiếm người vắng m t tại nơi cư tr trên Đài tiếng n i Việt Nam – khu vực Tây Nguyên và Báo c ng lý, được khấu tr vào 3.500.000đ tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại Tòa án.
Về án ph : Buộc chị Tr n Thị H phải chịu 2.605.000đ (Hai triệu sáu trăm linh năm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại c ph n sài gòn T số tiền 781.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2017/0005036, ngày 03/5/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kr ng Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại c ph n sài gòn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày tròn kể t ngày tuyên án.
Bị đơn chị Tr n Thị H vắng m t tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể t ngày nhận được bản sao bản án ho c t ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện Thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Kr ng Pắc; - Chi cục Thi hành án huyện P; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu: Hồ sơ vụ án, V.P | Thẩm phán - Ch toạ phiên toà (Đã ký) Võ Thị Mai |