- Tranh chấp gì? án dân sự — "Bản án DSST Cty VLXD TGN - Cty TNHH X"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 428, 429, 430, 431, 433, 434 và Điều 438 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 332 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 42, 50, 55 Luật thương mại năm 2005; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản …
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 332 Bộ luật Dân sự; Điều 42 Luật thương mại
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2019/DS-ST Ngày: 29 - 3 - 2019 “V/v Tranh chấp kiện đòi tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Hải Ba
2/ Ông Tạ Văn Chinh
Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Văn Tiệp- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thịnh Thùy- Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 3 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 61/2018/TLST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2018 “V/v tranh chấp kiện đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2019/QĐXXST- DS ngày 14 tháng 2 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty cổ phần VLXD TGN
Địa chỉ: Tổ 9, ấp T, xã P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Hoàng T- Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền:
1/ Bà Huỳnh Thị Ngọc H, sinh năm 1981
Địa chỉ: Phường A, thị xã D, tỉnh Bình Dương theo Văn bản ủy quyền ngày 12/5/2018 (vắng mặt).
2/ Bà Vũ Thị Thu A, sinh năm 1991
Địa chỉ: Thôn Cầu T, xã K, huyện Đ, Thành phố Hà Nội theo Văn bản ủy quyền ngày 19/11/2018 (có mặt).
Bị đơn: Công ty TNHH X
Địa chỉ: Xã N, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo pháp luật:
Ông Nguyễn Xuân N- Giám đốc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện Tòa án nhận được ngày 15/5/2018 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Giữa Công ty cổ phần VLXD TGN (gọi tắt là Công ty TNG) và Công ty TNHH X (gọi tắt là Công ty X) ký Hợp đồng kinh tế về việc mua bán bê tông thương phẩm số: 160/2015/HĐKT/TGN ngày 01/4/2015, với nội dung: Công ty TNG bán bê tông thương phẩm cho Công ty X, khối lượng hàng hóa được giao từng đợt theo yêu cầu của bên mua. Sau mỗi đợt đổ bê tông 02 bên cùng đối chiếu xác nhận khối lượng bê tông đã giao và bên bán xuất Hóa đơn giá trị gia tăng cho bên mua để làm cơ sở thanh toán.
Kể từ khi ký kết hợp đồng, đã nhiều lần giao bê tông và xuất Hóa đơn giá trị gia tăng theo yêu cầu của Công ty X để làm cơ sở thanh toán. Tuy nhiên, Công ty X đã vi phạm cam kết không thanh toán đầy đủ tiền mua hàng như đã thỏa thuận, mặc dù đã nhiều lần Công ty TNG yêu cầu thanh toán nợ. Theo giấy xác nhận nợ ngày 03/02/2016, Công ty X còn nợ 94.982.500đ, ngày 07/10/2016 trả 20.000.000đ. Tính đến thời điểm hiện tại, Công ty X còn nợ Công ty TNG theo các Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 31/5/2015, 18-22/8/2015, 25-30/9/2015 và 21,22/10/2015 với tổng số tiền là 74.982.500đ. Công ty TNG yêu cầu Công ty X phải trả toàn bộ khoản nợ này và không yêu cầu tính lãi.
Đại diện theo pháp luật của Công ty X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.
Khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tại Sở kế hoạch và đầu tư và chính quyền địa phương nơi có trụ sở, xác định Công ty X chưa giải thể, phá sản hoặc tạm ngừng hoạt động.
Ý kiến của Viện kiểm sát: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNG, buộc Công ty X phải trả toàn bộ số tiền 74.982.500đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về thủ tục tố tụng: Mặc dù tranh chấp kiện đòi tài sản liên quan đến Hợp đồng kinh tế giữa 02 công ty có đăng ký kinh doanh nhưng do các bên đã có giấy xác nhận nợ, nên xác định đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc. Trong vụ án này, đại diện theo pháp luật của Công ty X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.
. Xét về yêu cầu của nguyên đơn:
Hội đồng xét xử xác định, Công ty cổ phần VLXD TGN và Công ty TNHH X ký kết Hợp đồng kinh tế “V/v mua bán bê tông thương phẩm” số: 160/2015/HĐKT/TGN ngày 01/4/2015 trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, không trái đạo đức xã hội, không bị pháp luật cấm. Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty X đã vi phạm thỏa thuận giữa các bên, không thanh toán đầy đủ tiền cho Công ty TNG sau khi đã nhận hàng. Tổng số tiền Công ty X chưa thanh toán tính đến thời điểm hiện tại là 74.982.500đ, mặc dù Công ty TNG đã nhiều lần yêu cầu thanh toán khoản tiền trên nhưng Công ty X không thực hiện. Do vậy, Công ty TNG đề nghị buộc Công ty X trả toàn bộ số tiền 74.982.500đ là có căn cứ cần chấp nhận.
Công ty X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do nên không có lời khai và đề nghị gì.
. Về án phí: Công ty TNG không phải chịu án phí và được trả lại 1.850.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: AA/2017/0000467 ngày 15/8/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lạc. Công ty X phải trả Công ty TNG 74.982.500đ nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 74.982.500đ x 5% = 3.749.000 đồng (tính tròn).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 428, 429, 430, 431, 433, 434 và Điều 438 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 332 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 42, 50, 55 Luật thương mại năm 2005; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên Xử:
1/ Buộc Công ty TNHH X phải trả cho Công ty cổ phần VLXD TGN số tiền 74.982.500đ.
“Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.”
2/ Về án phí: Công ty TNG không phải chịu án phí và được trả lại 1.850.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2017/0000467 ngày 15/8/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lạc. Công ty X phải chịu 3.749.000đ (tính tròn) án phí Dân sự sơ thẩm.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
“ Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành tại các Điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.”
| Nơi nhận: - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lạc; - Các đương sự ( Để thi hành); - Lưu HS - AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Minh Tuấn |